Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:164/2024/HS-ST

Ngày: 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Minh.
  2. Ông Tạ Công Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1997 tại thành phố Cần Thơ.

Số định danh cá nhân: 092197002090.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ; Chổ ở hiện tại: Ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp không; trình độ học vấn 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị G; chung sống như vợ chồng và 01 con; tiền án không; tiền sự không; bị bắt, tạm giữ ngày 11/6/2024, tạm giam ngày 14/6/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Ngô Thị Kim T1, sinh năm 1984 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Số E Nguyễn Thị T2, Khu phố D, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng: Anh Võ Văn T3, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, Tổ tuần tra kiểm soát thuộc Đ1 - trật tự Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đang làm nhiệm vụ trên Tỉnh lộ 870, đoạn thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì phát hiện Nguyễn Thị H điều khiển xe mô tô hai bánh biển số 63B9-091.49 theo hướng Ngã tư Đ đi xã B có biểu hiện nghi vấn nên chặn dừng kiểm tra. Nguyễn Thị H liền quay xe theo hướng ngược lại định bỏ chạy thì xe bị ngã xuống đường, lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành mời Nguyễn Thị H vào lề đường làm việc. Lúc này, trên tay trái của H có một túi nylon, H liền bỏ xuống đường ngay vị trí H đang đứng, lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện, thu giữ 01 (một) túi nylon màu trắng (loại túi zip) được vuốt kín, bên trong có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu, bên trong không chứa gì; 02 (hai) túi nylon màu trắng (loại túi zip) một đầu có viền màu đỏ được vuốt kín, bên trong mỗi túi nylon đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp (túi nylon có nhiều tinh thể màu trắng được ký hiệu là M1, túi nylon có ít tinh thể màu trắng được ký hiệu là M2). Theo lời trình bày của H, túi nylon chứa nhiều ma túy (M1) là của H mua vào khoảng 14 giờ ngày 10/6/2024 của một người tên là “B” gần khu vực Cầu R thuộc xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ) với số tiền 800.000 đồng với mục đích để sử dụng, túi nylon chứa ít ma túy (M2) là của H, do một người bạn mới quen (không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ) cho H trước đó vài ngày, H giữ lại với mục đích để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 96/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,7238 gam, loại Methamphetamine (trong đó: Mẫu ký hiệu M1 có khối lượng 2,6166 gam và mẫu ký hiệu M2 có khối lượng 0,1072 gam).

Tại bản cáo trạng số 153/CT-VKSCT ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có con nhỏ, là lao động chính trong gia đình đang nuôi mẹ bị khuyết tật là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 32, Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ số lượng ma tuý còn lại sau giám định, đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B9-091.49, do chưa xác định được người quản lý hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục tạm giữ để xác minh, làm rõ giải quyết sau; Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình, lo cho con nhỏ và chăm sóc mẹ bị khuyết tật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với hành vi phạm tội theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Như vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thị H là đối tượng nghiện ma túy, đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, cụ thể vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/6/2024, tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Nguyễn Thị H đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 2,7238 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Ma túy có tác dụng gây nghiện đối với người sử dụng, rất khó từ bỏ được, người nghiện loại ma túy này mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc, gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe và tinh thần, nếu không có ma túy để sử dụng những người nghiện ma túy sẽ có những hành vi nguy hiểm cho xã hội như trộm cắp, cướp giật, thậm chí giết người cướp tài sản để lấy tiền mua ma túy sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện. Ma tuý còn là nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá trong lối sống, làm suy đồi đạo đức của thế hệ thanh thiếu niên, ma túy còn là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm gia tăng tình hình tội phạm và các tệ nạn xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy cần phải có chế tài nghiêm khắc để xử phạt các tội phạm về ma tuý.

[4] Khi thực hiện tội phạm, bị cáo H có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm tội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm để thoả mãn cơn nghiện. Xét tính chất nguy hiểm của tội phạm do bị cáo H thực hiện, Hội đồng xét xử xem xét cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo từ bỏ con đường phạm tội và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là lao động chính trong gia đình và phải chăm sóc mẹ là người khuyết tật nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định được để trong 01 bì thư niêm phong vụ số 96, ghi ngày 12/6/2024, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Đ (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M1) chứa 2,5668 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methaphetamine (mẫu ký hiệu M1); 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M2) chứa 0,0847 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methaphetamine (mẫu ký hiệu M2); 01 đoạn ống nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu, bên trong không chứa gì; 01 gói nylon màu trắng, có viền màu trắng một đầu (loại túi zip) và 02 gói nylon màu trắng, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

[7] Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số 63B9-091.49, qua xác minh, xe do chị Ngô Thị Kim T1 đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, năm 2020, chị T1 đã bán cho một người không rõ họ tên, chỉ làm giấy tay, không làm thủ tục sang tên. Bị cáo H khai xe này của một người tên “H1” cho mượn. Do chưa xác định được người quản lý hợp pháp của xe mô tô hai bánh, biển số 63B9-091.49 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục tạm giữ để xác minh, làm rõ, giải quyết sau.

[8] Theo lời khai của bị cáo H, bị cáo mua ma túy của đối tượng tên B (không rõ họ tên, địa chỉ) và do một người bạn mới quen cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân của hai đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục điều tra, nếu có cơ sở sẽ xử lý sau.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (Hai) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ là ngày 11/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu huỷ số lượng ma túy còn lại sau giám định được để trong 01 bì thư niêm phong vụ số 96, ghi ngày 12/6/2024, có các chữ ký in họ tên: Huỳnh Tấn L (Giám định viên), Nguyễn Quốc P (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Ngọc Đ (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M1) chứa 2,5668 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methaphetamine (mẫu ký hiệu M1); 01 gói nylon trong suốt được dán kín (ký hiệu M2) chứa 0,0847 gam là ma tuý còn lại sau giám định, loại Methaphetamine (mẫu ký hiệu M2); 01 đoạn ống nhựa màu trắng được cắt nhọn một đầu, bên trong không chứa gì; 01 gói nylon màu trắng, có viền màu trắng một đầu (loại túi zip) và 02 gói nylon màu trắng, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip) đều đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhân:

  • - VKSND H. Châu Thành;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - CQ.CSĐT CA H. Châu Thành;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an H. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H. Châu Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 164/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: án hình sự Nguyễn Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger