|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 164/2024/HS-ST Ngày 25 – 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh
2. Ông Bùi Quý Minh Ánh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Phương Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Trần Văn Q; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1979 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12. Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Trần Văn Đ, sinh năm 1947 (đã chết); Con bà: Dương Thị G, sinh năm 1948; Có vợ là: Hà Thị N, sinh năm 1988 và có 02 con (lớn sinh năm 2015, bé sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2019/HS-ST ngày 19/3/2019 (chấp hành xong Bản án ngày 19/3/2020 đã được xóa án tích).
- Dương Đức C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1987 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Dương Quang D, sinh năm 1962; Con bà: Hà Thị H, sinh năm 1962; Có vợ là: Phan Thị Q1, sinh năm 1997 và có 03 con (lớn sinh năm 2018, bé sinh năm 2024). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Bùi Văn C1; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1987 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Bùi Văn L, sinh năm 1955; Con bà: Hà Thị G1, sinh năm 1956; Có vợ là: Lưu Thị Lan H1, sinh năm 1991 và có 02 con (lớn sinh năm 2012, bé sinh năm 2015). Tiền án, tiền sự: Không.
- Dương Duy H2; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1988 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Dương Văn C2, sinh năm 1962 (đã chết); Con bà: Trần Thị T, sinh năm 1963; Có vợ là: Đặng Ánh T1, sinh năm 1990 và có 02 con (lớn sinh năm 2015, bé sinh năm 2018); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/9/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định khởi tố bị can số: 275/QĐ-CSĐT về hành vi “Đánh bạc”.
- Bùi Văn H3; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1986 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Bùi Văn P, sinh năm 1960; Con bà: Hà Thị H4, sinh năm 1964; Có vợ là: Trần Thị H5, sinh năm 1987 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2007, bé nhất sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Dương Văn T2; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1987 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Dương Văn T3, sinh năm 1964; Con bà: Trần Thị M, sinh năm 1964; Có vợ là: Hà Kim T4, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 02 con (lớn sinh năm 2013, bé sinh năm 2021); Tiền án, tiền sự: Không.
- Dương Bá Q2; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1984 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Dương Văn L1, sinh năm 1958; Con bà: Trần Thị Q3, sinh năm 1963; Có vợ là: Mai Thị Tuyết C3, sinh năm 1984 và có 02 con (lớn sinh năm 2011, bé sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không.
- Dương Văn T5; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1976 tại P, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Con ông: Dương Văn T6, sinh năm 1940; Con bà: Hà Thị V, sinh năm 1939; Có vợ là: Trần Thị T7, sinh năm 1978 và có 02 con (lớn sinh năm 2003, bé sinh năm 2010); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2012, bị Công an huyện (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức “Phạt tiền” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 29/10/2012.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn K, sinh năm 1959; Nơi cư trú: TDP N, phường H, Tp ., Thái Nguyên. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Văn H6, sinh năm 1986; Nơi cư trú: TDP N, phường H, Tp ., Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn T8, sinh năm 1964; Nơi cư trú: TDP N, phường H, Tp ., Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 50 phút ngày 11/6/2024, tại căn phòng phía sau phòng thờ trên tầng 2 ngôi nhà của ông Trần Văn K (sinh năm 1959) thuộc tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác của Công an thành phố P kiểm tra, phát hiện Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3 và Dương Văn T5 đang đánh bạc dưới hình thức đánh “Xóc đĩa” được thua bằng tiền.
Tang vật thu giữ gồm: 27.300.000 đồng (Hai mươi bảy triệu ba trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 (thu trên chiếu bạc, được niêm phong ký hiệu “T”); 01 bát sứ màu trắng có hình hoa văn màu xanh; 01 đĩa sứ màu trắng, có hình hoa văn màu đỏ; 04 quân vị làm từ mảnh tre một mặt được tô đen, một mặt để nguyên; 01 vỏ chăn sọc kẻ caro và 01 chiếu cói nhựa. Tạm giữ trên người Dương Văn T2 9.000.000 đồng, tạm giữ trên người Trần Văn Q 200.000 đồng, tạm giữ trên người Bùi Văn C1 26.100.000 đồng, tạm giữ trên người Dương Bá Q2 990.000 đồng, tạm giữ trên người Dương Đức C 1.600.000 đồng.
Ngoài ra, còn có Trần Văn H6 (sinh năm 1986; trú tại tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) cũng có mặt tại nơi đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc mà chỉ ngồi xem các đối tượng đánh bạc. Sau đó, tổ công tác Công an thành phố P đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 và niêm phong vật chứng để giải quyết theo quy định.
Ngày 17/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T giám định số tiền 27.300.000 đồng thu giữ của các đối tượng niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”.
Tại bản Kết luận giám định số 749/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Số tiền gửi giám định trong phong bì ký hiệu “T” là tiền thật.
Tại Cơ quan điều tra, Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 11/6/2024, Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3 đến nhà ông Trần Văn K tại tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên chơi. Tại đây, C, C1, T2, Q2, H2, Q, H3 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức “Xóc đĩa” được thua bằng tiền Việt Nam đồng tại căn phòng phía sau phòng thờ trên tầng 2 nhà ông K. Lúc này tại phòng đã có sẵn bát, đĩa, quân vị, chiếu cói và được các đối tượng sử dụng làm công cụ để đánh bạc. Khi C, C1, T2, Q2, H2, Q, H3 đánh bạc đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày thì Dương Văn T5 đến tham gia đánh bạc cùng. Quá trình đánh bạc, C khai sử dụng 5.300.000 đồng, C1 khai sử dụng 5.000.000 đồng, T2 khai sử dụng 2.000.000 đồng, Q2 khai sử dụng 2.000.000 đồng, H2 khai sử dụng 5.000.000 đồng, Q khai sử dụng 1.500.000 đồng, H3 khai sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc, T5 khai sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc. Về hình thức đánh “Xóc đĩa” được các đối tượng tham gia đánh bạc quy ước như sau: Có 04 quân vị, một mặt màu trắng, một mặt màu đen, được làm từ mảnh tre, cho 04 quân vị vào 01 chiếc bát, úp 01 chiếc đĩa để xóc. Người xóc cái sẽ xóc đều các quân vị, sau khi xóc đều, người xóc cái đặt bát đĩa bên trong chứa quân vị xuống chiếu bạc. Lúc này, những người tham gia đánh bạc đặt cược tiền vào một trong hai cửa chẵn hoặc cửa lẻ. Người xóc cái mở bát, nếu trên đĩa quân vị là chẵn (hai mặt đen, hai mặt trắng hoặc bốn mặt đen hoặc bốn mặt trắng) thì người đặt cược tiền vào cửa chẵn thắng, nếu trên đĩa quân vị là lẻ (một mặt đen, ba mặt trắng hoặc một mặt trắng, ba mặt đen) thì người đặt cược tiền vào cửa lẻ thắng. Khi những người tham gia đánh bạc đã đặt cược xong, người xóc cái mở bát, nếu trên đĩa quân vị là chẵn thì người đặt cược tiền vào cửa chẵn thắng, nếu trên đĩa quân vị là lẻ thì người đặt cược tiền vào cửa lẻ thắng. Người thắng sẽ được người xóc cái trả cho số tiền bằng số tiền người đó đã đặt cược, người thua sẽ mất số tiền mà người đó đã đặt cược. Người xóc cái trả tiền cho người thắng và lấy tiền của người thua, nếu số tiền của người thắng ít hơn số tiền người thua thì người xóc cái được hưởng, nếu số tiền của người thắng nhiều hơn số tiền của người thua thì người xóc cái phải bù bằng tiền của mình. Quy định mỗi ván đặt cược tối thiểu là 100.000 đồng và không quy định tối đa.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 144/CT-VKSPY ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 144/CT-VKSPY ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Q, Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”
- Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Q mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Duy H2 mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Đức C mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn C1 mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn H3 mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Bá Q2 mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn T2 mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn T5 mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 - 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng Cattong niêm phong ký hiệu B ghi bên trong có: 01 bát sứ màu trắng, có hình hoa văn màu xanh; 01 đĩa sứ màu trắng, có hình hoa văn màu đỏ và 04 quân vị được làm từ mảnh tre có một mặt được tô đen, một mặt để nguyên; 01 vỏ chăn sọc kẻ karo, cũ đã qua sử dụng; 01 chiếu cói nhựa cũ đã qua sử dụng là công cụ các đối tượng sử dụng để đánh bạc.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 27.300.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc
- Trả lại cho bị cáo Dương Văn T2 số tiền 9.000.000 đồng; Trả cho bị cáo Trần Văn Q số tiền 200.000 đồng; Trả cho bị cáo Bùi Văn C1 số tiền 26.100.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Dương Bá Q2 số tiền 990.000đ; Trả lại cho bị cáo Dương Đức C số tiền 1.600.000đ. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị áp dụng Điều 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ –UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Phạt tiền các bị cáo Trần Văn Q, Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Bùi Văn H3, Dương Văn T9 mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Hình phạt chính:
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương để thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn Q, Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 tại phiên toà là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do hám lợi, trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 13 giờ 50 phút ngày 11/6/2024, tại phòng trên tầng 2 ngôi nhà của ông Trần Văn K thuộc tổ dân phố N, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Trần Văn Q, Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “Xóc đĩa” được thua bằng tiền Ngân hàng N1 thì bị Công an thành phố P phát hiện, thu giữ vật chứng. Số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 27.300.000 đồng.
Hành vi, ý thức của các bị cáo Trần Văn Q, Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, bản Cáo trạng số: 144/CT-VKSPY ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự công cộng do Nhà nước quản lý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do các bị cáo hám lợi, muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:
4.1. Về nhân thân: Các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Bùi Văn H3 không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt.
Đối với bị cáo Dương Văn T5, bị cáo đã từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” vào năm 2012, cụ thể: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 02/QĐ-XPHC ngày 29/10/2012 của Công an huyện P xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Tuy nhiên, quá trình xác minh thể hiện không có thông tin về hồ sơ lưu trữ liên quan đến quyết định xử lý vi phạm hành chính số 02 ngày 29/10/2012 nêu trên, mặt khác đối chiếu theo quy định tại Điều 7, Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và bị cáo đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm theo quy định.
Đối với bị cáo Dương Duy H2, mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân cần đề cập cụ thể: Ngày 04 tháng 9 năm 2024 bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố bị can về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định khởi tố bị can số 275 ngày 04 tháng 9 năm 2024
Đối với bị cáo Trần Văn Q, quá trình điều tra xác minh thông tin về nhân thân của bị cáo thể hiện: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2019/HS-ST ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt Trần Văn Q mức án 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong bản án hình sự trên vào ngày 19/3/2020, tuy đã được xóa án tích theo quy định nhưng cũng là yếu tố nhân thân cần xem xét bởi lần phạm tội này của bị cáo cùng là loại tội phạm “Đánh bạc”.
4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Văn Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Ngoài ra, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị cáo Trần Văn Q, Dương Văn T2, Dương Văn T5 đã giao nộp các tài liệu thể hiện các bị cáo Q, T2, T5 có thân nhân là người có công với Nhà nước và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước và B khen thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho các bị cáo Trần Văn Q, Dương Văn T5, Dương Văn T2 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
4.4. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự, nhưng là đồng phạm giản đơn, bởi hành vi của các bị cáo là bột phát, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau giữa những người thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, để đảm bảo phân hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Duy H2 và Bùi Văn H3 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất, tham gia đánh bạc tích cực từ đầu cho đến khi bị bắt nên các bị cáo có vai trò cao hơn các bị cáo khác trong vụ án.
Đối với các bị cáo Dương Văn T2, Dương Văn T5, Dương Bá Q2, Trần Văn Q đều đánh bạc tích cực cho đến khi bị phát hiện, do đó các bị cáo T2, Q2, T5, Q giữ vai trò ngang nhau trong vụ án và thấp hơn các bị cáo Chung, C1, H2, H3.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 là người không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận lời thỉnh cầu của các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên áp dụng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3, Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết: 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự ngày 23 tháng 3 năm 2022 cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Dương Duy H2 và bị cáo Trần Văn Q, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo H2 hiện đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố bị can về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định khởi tố bị can số 275 ngày 04/9/2024; Bị cáo Q, năm 2019 đã bị kết án về hành vi “Đánh bạc” và bị Tòa án thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng, mặc dù bị cáo đã chấp hành xong bản án trên và được xóa án tích theo quy định nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cùng loại, điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém của bị cáo nên Hội đồng xét xử thấy rằng cần có mức hình phạt nghiêm khắc, buộc cách ly các bị cáo H2, Q ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Xét quan điểm về việc giải quyết vụ án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Xét thấy, các bị cáo phạm tội nhằm mục đích vụ lợi nên ngoài hình phạt chính cần thiết phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.
[7]. Về biện pháp tư pháp:
Đối với 01 thùng cattong niêm phong ký hiệu B ghi bên trong có: 01 bát sứ màu trắng, có hình hoa văn màu xanh; 01 đĩa sứ màu trắng, có hình hoa văn màu đỏ và 04 quân vị được làm từ mảnh tre có một mặt được tô đen, một mặt để nguyên; 01 vỏ chăn sọc kẻ karo, cũ đã qua sử dụng; 01 chiếu cói nhựa cũ đã qua sử dụng – Quá trình điều tra xác định những vật chứng này là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy
Đối với số tiền 27.300.000 đồng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước
Đối với số tiền 9.000.000 đồng tạm giữ trên người của bị cáo Dương Văn T2; Số tiền 200.000 đồng tạm giữ trên người bị cáo Trần Văn Q; Số tiền 26.100.000 đồng tạm giữ trên người của bị cáo Bùi Văn C1; Số tiền 990.000đ tạm giữ trên người của bị cáo Dương Bá Q2 và số tiền 1.600.000đ tạm giữ trên người của bị cáo Dương Đức C. Xét thấy, các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo quản lý sử dụng. Tuy nhiên, do các bị cáo còn phải chấp hành hình phạt bổ sung nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 05/9/2024 và ủy nhiệm chi số 290 ngày 23 tháng 8 năm 2024
[8]. Về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo: Các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[9]. Về các vấn đề khác trong vụ án: Trong vụ án này, ông Trần Văn K là chủ nhà nơi các đối tượng đánh bạc, quá trình điều tra xác định ông K không biết các đối tượng đánh bạc tại nhà mình và cũng được hưởng lợi gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xem xét xử lý đối với ông K là phù hợp.
Đối với Trần Văn H6 là người có mặt tại nơi các đối tượng đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc và không được hưởng lợi gì nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không xem xét xử lý đối với H6 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”
- Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Duy H2 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Dương Đức C 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn C1 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn H3 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Dương Bá Q2 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Dương Văn T2 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Dương Văn T5 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Bùi Văn H3, Dương Bá Q2, Dương Văn T2, Dương Văn T5 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo
- Biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng Cattong niêm phong ký hiệu B ghi bên trong có: 01 bát sứ màu trắng, có hình hoa văn màu xanh; 01 đĩa sứ màu trắng, có hình hoa văn màu đỏ và 04 quân vị được làm từ mảnh tre có một mặt được tô đen, một mặt để nguyên; 01 vỏ chăn sọc kẻ karo, cũ đã qua sử dụng; 01 chiếu cói nhựa cũ đã qua sử dụng
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 27.300.000 đồng các bị cáo dùng để đánh bạc
- - Trả lại cho bị cáo Dương Văn T2 số tiền 9.000.000 đồng; Trả cho bị cáo Trần Văn Q số tiền 200.000 đồng; Trả cho bị cáo Bùi Văn C1 số tiền 26.100.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Dương Bá Q2 số tiền 990.000đ; Trả lại cho bị cáo Dương Đức C số tiền 1.600.000đ. Tuy nhiên, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Văn Q và Dương Duy H2 mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Phạt bổ sung các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 mỗi bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 05/9/2024 và ủy nhiệm chi số 290 ngày 23 tháng 8 năm 2024
Các bị cáo Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Dương Bá Q2, Dương Duy H2, Trần Văn Q, Bùi Văn H3, Dương Văn T5 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo Dương Duy H2, Dương Đức C, Bùi Văn C1, Dương Văn T2, Bùi Văn H3, Dương Bá Q2, Trần Văn Q, Dương Văn T5 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
- Hình phạt chính:
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Chiều |
Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 164/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Q cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc
