|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 164/2024/DS-ST
Ngày 24-9-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Sen.
Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2024/TLST-DS, ngày 03 tháng 7 năm 2024 “Về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: số B L, Phường T, Quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoài P – Trưởng Phòng khách hàng Ngân hàng N - Chi nhánh thị xã V “có mặt”.
Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 24 tháng 9 năm 2024).
Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm: 1979 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Số E, ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Hồng T, sinh năm: 1985 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Số E, ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 6 năm 2024 và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Hoài P trình bày:
Vào ngày 02/10/2020 hàng Nông nghiệp và N Chi nhánh thị xã V đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202001177 với ông Trần Văn C. Theo Hợp đồng, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V cho ông C vay số tiền 350.000.000; mục đích vay: nuôi tôm lãi suất 1%/năm; thanh toán trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 08 tháng
Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng các hợp đồng thế chấp sau:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/82/2014/HĐTC31/07/2014 Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC14/3/2019 ký kết giữa ông Trần Văn C, bà Nguyễn Hồng T và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 511063 có diện tích 10695m² (loại đất: lúa thửa số 61 tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho hộ ông Trần Văn C.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 149/HĐ/120/2014/HĐTCEFIELD "NGÀY_KÝ_2" 19/11/2014 Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 01/HĐTC02/10/2020 ký kết giữa ông Trần Văn T và bà Phan Kim T, GƯỜI BỊ KIỆN" ông Trần Văn C hàng Nông nghiệp N - Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 511065 có diện tích 9847m² (loại đất: lúa thửa số 403 tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại: ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Văn T.
Sau khi ký hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã giải ngân cho ông Trần Văn C số tiền vay là 350.000.000 đồng.
Sau khi ký hợp đồng thì Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã giải ngân cho ông C nhận đủ số tiền vay là 350.000.000 đồng. Sau đó ông C không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Tính đến hết ngày 24/9/2024, ông C còn nợ ngân hàng N tiền vay gốc là 350.000.000 đồng, tiền lãi là 187.609.589 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi là 537.609.589 đồng. Do số tiền vay của Ngân hàng là nợ chung của ông C và vợ ông C là bà Nguyễn Hồng T, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C và bà T cùng liên đới có nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng N.
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Trần Văn C và bà Nguyễn Hồng T cùng liên đới có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N số tiền vay gốc và lãi phát sinh đến ngày 24/9/2024 là 537.609.589 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/9/2024 cho đến khi ông C và bà T trả hết tiền nợ gốc cho Ngân hàng, Ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Trần Văn C trình bày:
Vào ngày 02/10/2020 ông Trần Văn C đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202001177 với Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V. Theo Hợp đồng, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V cho ông C vay số tiền 350.000.000; mục đích vay: nuôi tôm lãi suất 1%/năm; thanh toán trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 08 tháng
Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng các hợp đồng thế chấp sau:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/82/2014/HĐTC 31/07/2014 Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC14/3/2019 ký kết giữa ông Trần Văn C, bà Nguyễn Hồng T và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 511063 có diện tích 10695m² (loại đất: lúa thửa số 61 tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng Ủy ban nhân dân thị xã V cấp cho hộ ông Trần Văn C.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 149/HĐ/120/2014/HĐTC 19/11/2014 Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 01/HĐTC02/10/2020 ký kết giữa ông Trần Văn T và bà Phan Kim T, GƯỜI BỊ KIỆN" ông Trần Văn C hàng Nông nghiệp N - Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 511065 có diện tích 9847m² (loại đất: lúa thửa số 403 tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại: ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ ông Trần Văn T.
Sau khi ký hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã giải ngân cho ông Trần Văn C số tiền vay là 350.000.000.
Số tiền vay này ông C vay về để gia đình nuôi tôm, nên đây là nợ chung của vợ chồng ông C và vợ ông C là bà T. Sau khi vay tiền thì do làm ăn thất bại, nên ông C và bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, ông C thừa nhận còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 350.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Do nuôi thất bại nên ông C yêu cầu được trả 02 lần đến cuối năm 2025 dứt nợ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hồng T đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, nên bà T đã biết được yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Bà T không có ý kiến gì đối với yêu cầu của Ngân hàng N.
Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu đã ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập bà Nguyễn Hồng T tham gia phiên họp hợp lệ, nhưng bà Nguyễn Hồng T vắng mặt không có lý do và bà T cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đông xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N kiện bị đơn ông Trần Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hồng T, cùng cư trú tại ấp T, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng theo khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả tiền nợ vay theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký. Do đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp phát sinh trong vụ kiện này là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Ông Trần Văn C là bị đơn và bà Nguyễn Hồng T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông C và bà T.
[2] Về nội dung hợp đồng tín dụng:
Vào ngày 02/10/2020 hàng Nông nghiệp và N Chi nhánh thị xã V đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202001177 với ông Trần Văn C. Theo Hợp đồng, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V cho ông C vay số tiền 350.000.000; mục đích vay: nuôi tôm lãi suất 1%/năm; thanh toán trả lãi hàng tháng, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 08 tháng Sau khi ký hợp đồng thì Ngân hàng đã giải ngân cho ông C nhận đủ số tiền vay là 350.000.000 đồng. Sau khi vay tiền ông C không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, ông C chưa trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng.
[3] Ông Trần Văn C xác định số tiền 350.000.000 đồng vay của Ngân hàng N, mục đích để nuôi tôm phục vụ kinh tế gia đình, nên đây là nợ chung của ông C và bà Nguyễn Hồng T.
[4] Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng N thì Ngân hàng yêu cầu ông Trần Văn C và bà Nguyễn Hồng T cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc là 350.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Ông C thừa nhận còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 350.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh; bà T đã biết được yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, nhưng bà T không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của Ngân hàng N, nên đây là tình tiết, sự kiện Ngân hàng N không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[5] Xét về nội dung và hình thức của hợp đồng: ông Trần Văn C là người trực tiếp vay tiền và ký tên vào hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202001177 ngày 02/10/2020, hợp đồng này xác lập trên cơ sở tự nguyện, về hình thức giao kết tại thời điểm xác lập phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2019 NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019; Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 398, Điều 401, Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã giải ngân cho ông C nhận đủ số tiền vay theo hợp đồng, vì vậy có đủ căn cứ xác định hợp đồng tín dụng này có giá trị pháp lý và có hiệu lực đối với các bên tham gia ký.
[6] Xét về lỗi: ông Trần Văn C và bà Nguyễn Hồng T thực hiện không đúng nghĩa vụ theo giao kết của hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, vì vậy ông C và bà T là bên có lỗi và đã vi phạm hợp đồng, nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết của hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
[7] Về yêu cầu hoàn trả số tiền vay gốc là 350.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202001177 ngày 02/10/2020 của Ngân hàng N:
Xét thấy: ông Trần Văn C và bà Nguyễn Hồng T là bên vi phạm hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ trả tiền của bên vay tài sản, Ngân hàng N yêu cầu ông C và bà T cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng số tiền gốc 350.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về yêu cầu hoàn trả số tiền lãi theo hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202001177 ngày 02/10/2020 của Ngân hàng N:
Xét thấy: mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202001177 ngày 02/10/2020 phù hợp theo quy định của pháp luật. Ông Trần Văn C và bà Nguyễn Hồng T không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi của bên vay tài sản, Ngân hàng N yêu cầu ông C và bà T cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả tiền lãi tính đến ngày 24/9/2024 là 187.609.589 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/9/2024 cho đến khi ông C và bà T trả hết tiền nợ gốc cho Ngân hàng là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2019 NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TTNHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Đối với ý kiến của ông Trần Văn C xin trả dần số tiền vay gốc và lãi. Xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc ông Trần Văn C và bà Nguyễn Hồng T cùng liên đới có trách nhiệm nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 25.504.383 đồng; Ngân hàng N không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.795.359 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004886 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
[11] Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 357, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 7, Điều 8 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 13 Thông tư số 39/2010/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
Buộc ông Trần Văn C và bà Nguyễn Hồng T cùng liên đới có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc là 350.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 24/9/2024 là 187.609.589 đồng, tổng cộng tiền gốc và lãi là 537.609.589 đồng (năm trăm ba mươi bảy triệu sáu trăm lẻ chín ngàn năm trăm tám mươi chín đồng).
Kể từ ngày 25/9/2024 ông C và bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202001177 ngày 02/10/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng N thì lãi suất mà ông C và bà T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N.
Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Trần Văn C và bà Nguyễn Hồng T cùng liên đới có trách nhiệm nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 25.504.383 đồng (hai mươi lăm triệu năm trăm lẻ bốn ngàn ba trăm tám mươi ba đồng); Ngân hàng N không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.795.359 đồng (bốn triệu bảy trăm chín mươi lăm ngàn ba trăm năm mươi chín đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004886 ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Về quyền kháng cáo bản án: người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Liên Lâm Anh Thảo |
Bản án số 164/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 164/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
