TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 164/DS-ST Ngày: 16/9/2024 “V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Ông Huỳnh Phi Hổ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 992/2023/TLST- DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 1205/QÐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 1316/2024/QÐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T6
Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị
Chi nhánh thực hiện việc khởi kiện: Ngân hàng T6 – Chi nhánh B
Địa chỉ trụ sở chi nhánh: Số B, đường C, KCN B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Mỹ D1. – Chức vụ: Giám đốc ngân hàng TMCP T6 – Chi nhánh B.
Bà D1 uỷ quyền lại cho bà Nguyễn Huỳnh Thanh T, sinh năm 1978 hoặc/và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1985 hoặc/và bà Đặng Thị Lan A, sinh năm 1978; Cùng địa chỉ trụ sở: 22 đường C, KCN B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn:
- 1. Ông Lê Nhân C, sinh năm 1979
- Địa chỉ: G, tổ B, khu3, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai
- Nơi làm việc: Công ty B1,số 23 Nguyễn Văn Hoa, KP.2, P. Thống Nhất, Biên Hoà, Đồng Nai
- 2. Bà Võ Thị Bích T1, sinh năm 1983
- Địa chỉ: Số C, tổ A, khu P, phường L, B, Đồng Nai.
- Nơi làm việc: Trường THCS P, KP. Miễu, P. P, B, Đồng Nai
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Bà Nguyễn Minh N, sinh năm 1989
- 2. Ông Phùng Trọng T2, sinh năm 1984
- 3. Cháu Phùng Nguyễn Minh A1, sinh năm 2014;
- 4. Cháu Phùng Đại M, sinh năm 2016
Cùng địa chỉ: F, tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện theo pháp luật của cháu Minh A1, cháu Đại M: Bà Nguyễn Minh N, sinh năm 1989 và ông Phùng Trọng T2, sinh năm, 1984; Cùng địa chỉ: F, tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
( Bà Nguyễn Huỳnh Thanh T, ông Lê Nhân C có mặt. Bà T1, bà N, ông T2 có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng T6 trình bày:
Ngân hàng T6 (viết tắt là V) đã cho ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 vay tiền cụ thể như sau:
- Theo Hợp đồng cho vay số 0481.18/48.11-BDS ngày 18/06/2018: Số tiền cho vay: 7.000.000.000 đồng (Bảy tỉ đồng); Mục đích vay: Bù đắp tiền mua đất ở; Lãi suất cho vay: lãi suất theo thông báo của Ngân hàng tại thời điểm nhận nợ và được điều chỉnh vào ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm theo lãi suất thông báo của Ngân hàng; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Thời hạn cho vay: 180 tháng, kể từ ngày tiếp theo của của ngày giải ngân vốn vay lần đầu; Trả nợ gốc: Lịch trả nợ gốc: Hàng tháng; Trả định kỳ trong 180 kỳ, 12 kỳ đầu mỗi kỳ trả 30.000.000 đồng vào ngày 10 hàng tháng. Kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 10/08/2018, 167 kỳ tiếp theo mỗi kỳ trả 39.500.000 đ vào ngày 10 hàng tháng, kỳ cuối cùng trả 43.500.000 đ vào ngày đến hạn ghi trên giấy nhận nợ; Trả lãi vay: định kỳ hàng tháng vào ngày trả nợ gốc.
Ngày 22/06/2018, khách hàng đã rút vốn vay 7.000.000.000 đồng. Từ ngày 10/05/2023, khách hàng không thanh toán lãi gốc và lãi vay đến hạn theo lịch trả nợ
- Theo Hợp đồng tín dụng số 0480.21/48.11-BDS ngày 01/09/2021: Số tiền cho vay: 2.000.000.000 đồng (Hai tỉ đồng); Mục đích vay: Thanh toán tiền sửa nhà; Lãi suất cho vay: lãi suất theo thông báo của Ngân hàng tại thời điểm nhận nợ và được điều chỉnh vào ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm theo lãi suất thông báo của Ngân hàng; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Thời hạn cho vay: 240 tháng, kể từ ngày tiếp theo của của ngày giải ngân vốn vay lần đầu; Trả nợ gốc: Lịch trả nợ gốc: Hàng tháng, trả định kỳ trong 240 kỳ, 239 kỳ đầu mỗi kỳ trả 8.330.000 đồng vào ngày 10 hàng tháng. Kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 10/10/2021. Kỳ cuối cùng trả 9.130.000 đồng vào ngày đến hạn quy định trên giấy nhận nợ; Trả lãi vay: định kỳ hàng tháng vào ngày trả nợ gốc;
Ngày 06/09/2021, khách hàng đã rút vốn vay 1.800.000.000 đồng; Ngày 22/09/2021, khách hàng đã rút vốn vay 200.000.000 đồng.
Từ ngày 10/05/2023, khách hàng không thanh toán lãi gốc và lãi vay đến hạn theo lịch trả nợ
- Theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0568.22/48.11-TDC ngày 17/11/2022: Số tiền cho vay: 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng); Mục đích vay: Thanh toán tiền hoàn thiện nội thất nhà ở; Lãi suất cho vay: lãi suất theo thông báo của Ngân hàng tại thời điểm nhận nợ và được điều chỉnh vào ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hàng năm theo lãi suất thông báo của Ngân hàng; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Thời hạn cho vay: 120 tháng, kể từ ngày tiếp theo của của ngày giải ngân vốn vay lần đầu; Trả nợ gốc: Lịch trả nợ gốc: Hàng tháng; Trả định kỳ trong 120 kỳ, 119 kỳ đầu mỗi kỳ trả 2.670.000 đồng vào ngày 10 hàng tháng. Kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 10/01/2023, kỳ cuối cùng trả 2.270.000 đồng vào ngày đến hạn quy định trên giấy nhận nợ; Trả lãi vay: định kỳ hàng tháng vào ngày trả nợ gốc;
Ngày 18/11/2022, khách hàng đã rút vốn vay 115.000.000 đồng; Ngày 05/12/2022, khách hàng đã rút vốn vay 90.000.000 đồng; Ngày 15/12/2022, khách hàng đã rút vốn vay 115.000.000 đồng
Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên là quyềndụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 035135 do Sở T7 và Trường Nai cấp ngày 18/10/2014 đối với thửa đất số: 684, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại phường Hòa, TP ., Đồng Nai, diện tích 315 m2, hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị
Từ ngày 10/05/2023, khách hàng không thanh toán lãi gốc và lãi vay đến hạn theo lịch của tất cả các hợp đồng vay. Tính đến ngày 10/5/2023, khách hàng đã thanh toán được 2.306.626.572 đồng nợ gốc, 3.105509.315 đồng nợ lãi và 708.736 đồng lãi phạt. Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện thoại, làm việc, yêu cầu khách hàng trả nợ. Tuy nhiên, đến nay khách hàng vẫn chưa thanh toán dứt điểm khoản nợ vay quá hạn.
Tính đến hết ngày 15/9/2024, tổng nợ và các nghĩa vụ còn lại theo các hợp đồng tín dụng trên mà khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàng là 8.112.359.031 đồng, trong đó: Nợ gốc: 7.013.373.428 đồng, nợ lãi: 976.713.517 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.069.574.415 đồng, nợ lãi quá hạn: 29.632.046 đồng.
Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần T6 yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1:
- T3 buộc ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho VCB toàn bộ số tiền đến hết ngày 15/09/2024 là: 8,112,359,031 đồng (Tám tỷ, một trăm mười hai triệu, ba trăm năm mươi chín ngàn không trăm ba mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 7.013.373.428 đồng, nợ lãi: 1.069.574.415 đồng, nợ lãi quá hạn: 29.632.046 đồng.
- T3 buộc ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp cho vay số 0481.18/48.11-BDS ngày 18/06/2018, Hợp đồng cho vay số 0480.21/48.11-BDS ngày 01/09/2021, Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0568.22/48.11-TDC ngày 17/11/2022, kể từ ngày 16/09/2024 cho đến ngày thực tế ông Lê Nhân Công và bà Võ Thị Bích T1 trả hết nợ cho VCB.
- T3 nếu ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì VCB thông qua Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0481.18/48.11-TCBĐS ngày 22/06/2018 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- T3 số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ gồm cả gốc và lãi của ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 đối với Ngân hàng TMCP N2, nếu số tiền thu được từ bán xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ cho VCB thì ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Ngoại thương Nam
Tại bản khai ngày 19/01/2024, biên bản làm việc ngày 19/01/2024, Biên bản làm việc ngày 16/5/2024, bị đơn ông Lê Nhân C trình bày:
Ông xác nhận toàn bộ nội dung nguyên đơn trình bày tại đơn kiện và bản tự khai là đúng sự thật và ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên ông đề nghị Tòa án cho ông thêm thời gian để ông bán tài sản trả nợ cho Ngân hàng. Ông C không có ý kiến gì đối với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án và việc Tòa án đưa bà N,ông T2, cháu Minh A1, cháu Đại M tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa, ông C thừa nhận tất cả các khoản nợ như nguyên đơn trình bày là đúng. Tuy nhiên, ông đề nghị Ngân hàng G1 cho ông và bà T1 phần tiền lãi.
Tại bản khai ngày 12/7/2024, biên bản làm việc ngày 12/7/2024, bị đơn bà Võ Thị Bích T1 trình bày:
Bà xác nhận tất cả chữ viết, chữ ký của bà trong toàn bộ hồ sơ vay, hồ sơ thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng V1 đều là do bà ký, viết. Bà thừa nhận bà và ông C có vay Ngân hàng V1 số tiền như nguyên đơn trình bày tại đơn kiện, bản tự khai là đúng. Nay nguyên đơn khởi kiện buộc vợ chồng bà trả nợ thì bà đồng ý toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên do kinh tế, công việc của vợ chồng bà sau dịch C1 gặp nhiều khó khăn nên bà mong Tòa án, Ngân hàng V1 cho ông bà thêm thời gian khoảng 60 ngày để trả nợ. Bà đồng ý toàn bộ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án.
Tại bản khai ngày 03/4/2024, biên bản làm việc ngày 03/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Minh N trình bày:
Bà là người thuê nhà của ông C, bà T1 tại thửa đất số 684 tờ bản đồ số 4, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai từ tháng 01 năm 2021 đến nay. Khi thuê hai bên không lập hợp đồng, giá thuê là 5 triệu đồng/tháng, thời hạn thuê không xác định, hai bên thỏa thuận bằng lời nói với nhau là bên nào chấm dứt hợp đồng phải báo cho bên kia trước 01 tháng. Từ khi thuê nhà đến này, vợ chồng bà không xây dựng, cải tạo thêm bất cứ hạng mục nào. Nay Ngân hàng khởi kiện buộc ông C và bà T1 trả nợ, nếu không trả được thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản là căn nhà và đất mà bà đang thuê của ông C và bà T1 thì bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà đồng ý dời đi ngay khi Ngân hàng đến phát mãi tài sản.
Tại bản tự khai ngày 03/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phùng Trọng T2 trình bày:
Ông và bà N cùng các con Phùng Minh A1, Phùng Đại M là người thuê nhà của ông C, bà T1 tại thửa đất số 684 tờ bản đồ số 4, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nay Ngân hàng khởi kiện ông C và bà T1 thì ông không có ý kiến hay yêu cầu gì vì ông thuê nhà không có hợp đồng, từ khi thuê đến nay ông không xây dựng hay cải tạo bất cứ hạng mục nào của căn nhà. Ông đồng ý dời đi ngay khi Ngân hàng đến phát mãi tài sản.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn bà Võ Thị Bích T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Minh N và ông Phùng Trọng T2 đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố dân sự. Bị đơn ông Lê Nhân C không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T6.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật, thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Bị đơn ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 đều cư trú và làm việc tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại các Hợp tín dụng số 0481.18/48.11-BDS ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng số 0480.21/48.11-BDS ngày 01/9/2021; Hợp đồng tín dụng số 0568.22/48.11-TDC ngày 17/11/2022, các đương sự đã thỏa thuận: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này được giải quyết trên cơ sở thương lượng giữa các bên. Trong trường hợp không thương lượng được, các bên thống nhất giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền tại nơi Ngân hàng T8 Chi Biên H đặt trụ sở tại thời điểm nộp đơn khởi kiện”. Do đó, việc nguyên đơn lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với thỏa thuận của các bên tại các Hợp tín dụng và phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố dân sự. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản Điều 35, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Võ Thị Bích T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Minh N và ông Phùng Trọng T2 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt bà T1, bà N, ông T2.
[2]. Về nội dung tranh chấp:
2.1. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả tiền nợ vay và các khoản lãi:
Hợp tín dụng số 0481.18/48.11-BDS ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng số 0480.21/48.11-BDS ngày 01/9/2021; Hợp đồng tín dụng số 0568.22/48.11-TDC ngày 17/11/2022 giữa Ngân hàng T8 với ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.
Theo lời khai và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đã được bị đơn thừa nhận, nguyên đơn đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của bên cho vay là giao đủ tiền cho bên vay vào các ngày 22/6/2018, 06/9/2021, 22/9/2021, 18/11/2022, 05/12/2022, 15/12/2022, tổng số tiền là 9.320.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 10/5/2023, ông C bà T1 mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 2.306.626.572 đồng nợ gốc, 3.105509.315 đồng nợ lãi và 708.736 đồng lãi phạt nên ông C bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho V1. Do đó, V1 đã chuyển toàn bộ khoản nợ vay sang nợ quá hạn, thông báo chấm dứt hợp đồng vay trên và khởi kiện đương sự để thu hồi nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại các hợp tín dụng đã ký. Do bị đơn chưa trả hết được tiền gốc cũng như tiền lãi nên phải chịu lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất phạt chậm trả đã cam kết tại các hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Vì vậy, việc Ngân hàng T8 khởi kiện yêu cầu ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 trả số tiền nợ gốc và các khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký (lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả) là có căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên có cơ sở chấp nhận.
Tại phiên tòa, ông C thừa nhận tất cả các khoản nợ như nguyên đơn trình bày là đúng, ông đề nghị Ngân hàng giảm cho ông và bà T1 phần tiền lãi. Tuy nhiên, đề nghị của ông C không được Ngân hàng chấp nhận.
Từ những phân tích trên, cần buộc ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 trả cho Ngân hàng T6 toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến hết ngày 15/9/2024 là 8.112.359.031 đồng (Tám tỷ một trăm mười hai triệu ba trăm năm mươi chín nghìn không trăm ba mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 7.013.373.428 đồng, nợ lãi: 1.069.574.415 đồng, nợ lãi quá hạn: 29.632.046 đồng theo các hợp đồng tín dụng số 0481.18/48.11-BDS ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng số 0480.21/48.11-BDS ngày 01/9/2021; Hợp đồng tín dụng số 0568.22/48.11-TDC ngày 17/11/2022.
Ông C, bà T1 còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh từ ngày 16/9/2024 đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại các Hợp tín dụng và G nợ nói trên trên số tiền và thời gian chậm trả.
2.2 Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của nguyên đơn trong trường hợp ông C, bà T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0481.18/48.11-TCBĐS ngày 22/6/2018 giữa Ngân hàng T9 với ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, không bị lừa dối, các điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Tài sản thế chấp là quyền dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 035135 do Sở T7 và trường Nai cấp ngày 18/10/2014 đối với thửa đất số: 684, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại phường Hòa, TP ., Đồng Nai, diện tích 315 m2, hình thức sử dụng: sử dụng riêng, mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị là tài sản hợp pháp của ông Lê Nhân C được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành với các bên.
Quá trình giải quyết vụ án, ông C và bà T1 vắng mặt tại các buổi xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản tranh chấp nhưng đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Minh N và ông Phùng Trọng T2 xác định: Từ khi thuê nhà đến nay, vợ chồng ông bà không xây dựng, cải tạo thêm bất cứ hạng mục nào. Nay Ngân hàng khởi kiện buộc ông C và bà T1 trả nợ, nếu không trả được thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản là căn nhà và đất mà ông bà đang thuê của ông C và bà T1 thì ông bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Ông bà đồng ý dời đi ngay khi Ngân hàng đến phát mãi tài sản.
Tại Điều 4 Hợp thế chấp quyền sử dụng đất số 0481.18/48.11-TCBĐS ngày 22/6/2018 quy định: “Ngân hàng có quyền xử lý tài đảm bảo khi xảy ra ít nhất một sự kiện vi phạm và /hoặc theo quy định pháp luật... Việc xử lý tài đảm bảo được thực hiện theo quy định tại Hợp và quy định pháp luật”
Do ông C, bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên trường hợp ông C, bà T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan N1 có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông C, bà T1 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ trên của ông C, bà T1 thì ông C, bà T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho V1. Yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản đảm bảo là có cơ sở chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 155, 157 Bộ luật tố dân sự, ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 phải nộp 3.226.000 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên ông C, bà T1 phải hoàn lại số tiền này cho Ngân hàng T6.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 phải chịu số tiền 112.000.000 + (4.112.359.031 x 0,1%) = 116.112.359 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng T6 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản Điều 35, Điều 40, Điều 147, Điều 155, Điều 157, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 280, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 351, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010; Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T6 đối với ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng T8 tổng số tiền nợ của Hợp tín dụng số 0481.18/48.11-BDS ngày 18/6/2018; Hợp đồng tín dụng số 0480.21/48.11-BDS ngày 01/9/2021; Hợp đồng tín dụng số 0568.22/48.11-TDC ngày 17/11/2022 tạm tính đến hết ngày 15/9/2024 là: 8.112.359.031đ ( tám tỷ một trăm mười hai triệu ba trăm năm mươi chín nghìn không trăm ba mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là 7,013,152,570 đ (bảy tỷ không trăm mười ba triệu một trăm năm mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi đồng), nợ lãi trong hạn 1,069,574,415 đ (một tỷ không trăm sáu mươi chín triệu năm trăm bảy mươi tư nghìn bốn trăm mười lăm đồng), lãi quá hạn là 29,632,046 đ (hai mươi chín triệu sáu trăm ba mươi hai nghìn không trăm bốn mươi sáu đồng).
Ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp cho vay số 0481.18/48.11-BDS ngày 18/06/2018, Hợp đồng cho vay số 0480.21/48.11-BDS ngày 01/09/2021, Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số 0568.22/48.11-TDC ngày 17/11/2022, kể từ ngày 16/09/2024 cho đến ngày thực tế Ông Nhân Công và bà Võ Thị Bích T1 trả hết nợ cho Ngân hàng T6
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng T8 có quyền yêu cầu Cơ Nhà nước có thẩm quyền thi hành bản kê biên phát mãi tài sản đảm bảo là: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 035135 do Sở T7 và trường Nai cấp ngày 18/10/2014 đối với thửa đất số: 684, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại phường Hòa, TP ., Đồng Nai, diện tích 315 m2, thuộc quyền sử dụng của ông Lê Nhân C theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 0481.18/48.11-TCBĐS được công chứng tại Văn phòng C3 (tỉnh Đồng Nai) ngày 22/6/2018; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh B ngày 22/6/2018 để thu hồi nợ theo quy định.
Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 tại Ngân hàng Thương Cổ Ngoại thương Việt Nam thì ông C, bà T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng T6.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 phải hoàn trả số tiền 3.226.000 đồng (Ba triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng T6.
- Về án phí ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1 phải nộp 116.112.359 đồng (Một trăm mười sáu triệu một trăm mười hai nghìn ba trăm năm mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng T8 số tiền 57.675.000₫ (năm mươi bảy triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0009663 ngày 15 tháng 11 năm 2023 của C2 cục Thi hành án dân sự thành phố B.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tám |
Bản án số 164/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 164/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng T6 tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Nhân C và bà Võ Thị Bích T1
