Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/9/2024

Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Kim Thu;

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 250/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim O, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Tổ 15, ấp Tân Hưng, xã Mỹ Lâm, huyện H, tỉnh K (Vắng mặt - Có đơn xin giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Tạ Văn V, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Tổ 15, ấp Tân Hưng, xã Mỹ Lâm, huyện H, tỉnh K (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị Kim O trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Trước đây, sau thời gian tự tìm hiểu và yêu thương nhau thì chị Oanh và anh Vũ được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2005, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã An Minh Bắc, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 127 ngày 22/02/2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất vui vẽ và hạnh phúc, tuy nhiên từ cuối năm 2017 thì giữa chị và anh Vũ phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, bất hòa, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống anh Vũ ít khi quan tâm chăm lo cho gia đình. Chị Oanh đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh Vũ vẫn không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị quyết định sống ly thân với anh Vũ cho đến nay.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Tạ Văn V.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị Oanh và anh Tạ Văn V có 2 người con chung tên Tạ Phạm Phương Anh, sinh ngày 18/7/2005 và Tạ Phạm Nhã Phương, sinh ngày 19/8/2012. Ly hôn chị Oanh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phương đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Tạ Văn V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Còn cháu Phương Anh đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị Kim O xác định quá trình chung sống với nhau, chị và anh Tạ Văn V không có tài sản chung, cũng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Tạ Văn V:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh Vũ đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Vũ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Kim O.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị Kim O yêu cầu được ly hôn với anh Tạ Văn V. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Tạ Văn V có nơi cư trú tại ấp Tân Hưng, xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị Kim O có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Tạ Văn V đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

2

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị Phạm Thị Kim O và anh Tạ Văn V sau thời gian tự tìm hiểu và yêu thương nhau thì được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, anh chị có đăng ký kết hôn và được UBND xã An Minh Bắc, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 127 ngày 22/02/2005. Như vậy, hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kim O và anh Tạ Văn V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị Oanh về việc yêu cầu ly hôn với anh Vũ thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị Oanh và anh Vũ có phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cự cãi, theo chị Oanh trình bày thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, anh Vũ ít khi quan tâm lo lắng cho gia đình, mặc dù chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh Vũ vẫn không thay đổi, nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục nên chị Oanh quyết định sống ly thân với anh Vũ từ cuối năm 2017 cho đến nay. Chị Oanh cũng xác định trong thời gian chị và anh Vũ sống ly thân với nhau, thì anh chị không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị Oanh đoàn tụ gia đình, nhưng chị Oanh vẫn kiên quyết ly hôn với anh Vũ. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Vũ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh Vũ cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Oanh.

Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị Oanh và anh Vũ đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị Phạm Thị Kim O yêu cầu được ly hôn với anh Tạ Văn V là có cơ sở. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Phạm Thị Kim O được ly hôn với anh Tạ Văn V.

[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị Oanh và anh Vũ xác định anh chị có 2 người con chung tên Tạ Phạm Phương Anh, sinh ngày 18/7/2005 và Tạ Phạm Nhã Phương, sinh ngày 19/8/2012. Theo đơn khởi kiện chị Phạm Thị Kim O yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Phương đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Tạ Văn V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị Oanh thấy rằng: Từ khi chị Oanh và anh Vũ sống ly thân cho đến nay chị Oanh là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương, cháu vẫn học tập và phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp hai con phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cháu Nhã Phương

3

cho chị Oanh được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và phù hợp với nguyên vọng của cháu Tạ Phạm Nhã Phương. Đối với cháu Tạ Phạm Phương Anh đã trưởng thành (trên 18 tuổi) chị Oanh không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Oanh đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu anh Vũ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[3.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Oanh xác định giữa anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, chị Oanh không yêu cầu nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Phạm Thị Kim O phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim O được ly hôn với anh Tạ Văn V.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Tạ Phạm Nhã Phương, sinh ngày 19/8/2012 cho chị Phạm Thị Kim O được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Cháu Tạ Phạm Phương Anh, sinh ngày 18/7/2005 đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị Kim O không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Phạm Thị Kim O nuôi con; anh Tạ Văn V được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị Kim O xác nhận giữa chị và anh Tạ Văn V không có tài sản chung và nợ chung, nên chị Oanh không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.

4

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Phạm Thị Kim O phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001080 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chị Phạm Thị Kim O không phải nộp thêm.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - CCTHADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã An Minh Bắc, huyện An Minh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Quốc Chiến

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HNGĐ-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 164/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Oanh và Vũ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger