Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 164/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/9/2024

V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bành Quốc Trung.
  2. Bà Đinh Thị Kim Phụng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Thanh Tùng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trưởng Bảo Vy - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 204/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • – Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1983 (Xin vắng mặt);
  • Địa chỉ: ấp H, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang
  • – Bị đơn: Anh Lê Huỳnh P, sinh năm 1978 (Vắng mặt);
  • Địa chỉ: Số 61/61/10/30/13 Phạm Hùng, ấp 4A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
  • Tạm trú: ấp Hòa Thân, xã Bình Đông, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN :

* Theo đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh N trình bày: Chị và anh Phan t tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, chung sống với nhau từ năm 2019. Đến ngày 26/11/2019 chị và anh P tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND xã B, thị xã G (Nay là thành phố G) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 139. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống khác nhau, do anh P không lo làm ăn chăm sóc gia đình dẫn đến cãi vã cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau, nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu được ly hôn với anh Lê Huỳnh Phan ;
  • - Về con chung: Có con chung tên Lê Nguyễn Gia P1 sinh ngày 16/11/2019. Ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Lê Huỳnh P trình bày:

Anh thống nhất với chị N về thời gian kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị N là khi anh là chị N buôn bán quần áo, giày dép và đồ chơi trẻ em thì anh có thái độ nhăng nhó không hài lòng về việc buôn bán để kiếm thêm thu nhập cho gia đình và trước đây anh P làm nghề thợ hồ nhưng từ tháng 5/2024 cho đến nay thì anh không còn làm nữa và đang thất nghiệp, hiện tại anh không có công việc làm ổn định. Từ đó phát sinh mâu thuẫn với nhau và vợ chồng không còn tiếng nói chung.

Nay chị N yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý vì anh còn thương vợ, con muốn được hàn gắn lại tình cảm vợ chồng.

  • Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Gia P1 sinh ngày 16/11/2019. Anh yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu chị N cấp dưỡng.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị N; Về hôn nhân: Chị N được ly hôn với anh P; Về con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Gia P1 sinh ngày 16/11/2019 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí chị N chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Thanh N có đơn đề nghị giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Lê Huỳnh P có địa chỉ: Số F, ấp D, xã B, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh, chỗ ở hiện nay: ấp H, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang được Ủy ban nhân dân xã B xác nhận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

[1.1] Chị Nguyễn Thị Thanh N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lê Huỳnh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh P.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Lê Huỳnh Phan kết h với nhau được Ủy ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 139 ngày 26/11/2019 là hôn nhân hợp pháp. Nay chị N yêu cầu ly hôn cần được xem xét giải quyết theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nhận thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình.

Chị N trình bày nguyên nhân mâu thuẫn: trong quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống khác nhau do anh P không lo làm ăn chăm sóc gia đình dẫn đến cãi vã cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc.

Anh P trình bày nguyên nhân mâu thuẫn: khi anh và chị N buôn bán quần áo, giày dép và đồ chơi trẻ em thì anh có thái độ nhăng nhó không hài lòng về việc buôn bán để kiếm thêm thu nhập cho gia đình và trước đây anh P làm nghề thợ hồ nhưng từ tháng 5/2024 cho đến nay thì anh không còn làm nữa và đang thất nghiệp, hiện tại anh không có công việc làm ổn định. Từ đó phát sinh mâu thuẫn với nhau và vợ chồng không còn tiếng nói chung

Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh P không đến để dự phiên tòa và không trình bày ý kiến gì thêm về việc chị N xin ly hôn, chứng tỏ anh P không còn thiết tha hàn gắn tình cảm với chị N. Xét thấy, tình cảm vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, một bên đã không còn tình cảm mà kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai anh, chị. Mâu thuẫn vợ chồng chị N và anh P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có con chung Lê Nguyễn Gia P1 sinh ngày 16/11/2019. Ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy ly hôn chị N có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P1 và chị N đang làm nghề buôn bán có thu nhập ổn định, hiện tại cháu P1 đang sống cùng với chị N. Anh P trước kia làm thợ hồ nhưng tháng 5/2024 cho đến nay thì anh không còn làm hiện tại anh P đang thất nghiệp và không có công việc ổn định. Để đảm bảo cuộc sống của cháu không bị xáo trộn, ảnh hưởng đến môi trường sống của cháu nên căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được trực tiếp nuôi cháu Lê Nguyễn Gia P1 sinh ngày 16/11/2019. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[3] Về án phí: chị Nguyễn Thị Thanh N là nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận .

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH :

  • - Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh N.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh N được ly hôn với anh Lê Huỳnh Phan.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Nguyễn Gia P1 sinh ngày 16/11/2019 cho chị Nguyễn Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Thanh N không yêu cầu anh Lê Huỳnh Phan cấp d nuôi con.
  3. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh N phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000889 ngày 18/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gò Công. Như vậy, chị Nguyễn Thị Thanh N đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thanh N và anh Lê Huỳnh P có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh TG;
  • - VKSND TPGC;
  • - Chi cục THADS TPGC;
  • - UBND xã B, Tp Gò Công;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thu Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 164/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger