Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

---------------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------

Bản án số: 164/2024/HS-ST

Ngày: 20-6-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

------------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Anh Tuấn;

Bà Dương T3 Anh;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 04/4/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 07/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 28 ngày 21/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Gia Q, sinh ngày 25/7/2005; Giới tính: Nam; Đăng ký thường trú: xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Gia Đ (chết); Con bà Nguyễn Thị T1; Tiền án, tiền sự: Không; Danh bản, chỉ bản số 534 ngày 20/8/2023 do Công an quận Đống Đa lập; Tạm giữ ngày 10/8/2023; Tạm giam ngày 17/8/2023; Có mặt tại phiên tòa.
  2. Ngô Quang T, sinh ngày 11/10/2003; Giới tính: Nam; Đăng ký thường trú: phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội; Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ 26 phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Ngô Phạm T2; Con bà Vũ Thị Thanh D; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 21/8/2020 Công an quận Long Biên xử phạt hành chính 1.875.000 đồng (Quyết định xử phạt số 159) về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Ngày 23/9/2020 Công an quận Hai Bà Trưng xử phạt hành chính 375.000 đồng (Quyết định số 70817) về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Danh bản, chỉ bản số 530 ngày 20/8/2023 do Công an quận Đống Đa lập; Tạm giữ ngày 10/8/2023; Tạm giam ngày 17/8/2023; Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Nguyễn Minh T3, sinh năm 1995; Địa chỉ: Nguyễn Đức Cảnh, phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, Hà Nội; Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978; Đăng ký thường trú: xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Có mặt.
  2. Bà Vũ Thị Thanh D, sinh năm 1979; Đăng ký thường trú: phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội; Nơi ở: Định Công, tổ 26 phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản Cáo trạng số 94/CT-VKSĐĐ ngày 04/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Nguyễn Gia Q về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, bị cáo Ngô Quang T về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự, cụ thể:

Phạm Trọng V (chưa rõ nhân thân lai lịch), Ngô Quang T và Nguyễn Gia Q cùng góp tiền để cho vay lãi theo hình thức cho vay “họ”. Sau đó, các đối tượng thuê Nguyễn Bá N, Bùi Đăng Đ1, Nguyễn Việt H làm thuê. Hàng ngày, T, Q, Đ1, H và N đến quán Cafe J, địa chỉ tại đường Trường Chinh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội để giao dịch cho vay tiền lấy lãi và đòi nợ tiền khách vay. V là người chỉ đạo, thỉnh thoảng mới đến quán Cafe, việc cho khách vay tiền là do V trực tiếp thực hiện. V trả lương cho T, sau đó, T trả tiền lương cho Q, còn N, H và Đ mới làm nên chưa được hưởng lương.

Khoảng tháng 12/2022, thông qua mạng xã hội anh Nguyễn Minh T3 đã liên hệ với V đặt vấn đề vay tiền. Sau đó, Q gặp và làm hồ sơ cho anh T3 vay số tiền 25.000.000 đồng dưới hình thức “bốc bát họ tỷ lệ 10 ăn 9”, phải trả lãi 2.500.000 đồng trong thời hạn 50 ngày. Khi vay, anh T3 được cầm về 20.000.000 đồng, bị cắt lại 5.000.000 đồng (trong đó, 2.500.000 đồng tiền lãi, 2.500.000 đồng là tiền anh T3 phải trả trước 5 ngày). Còn lại, anh T3 phải trả mỗi ngày 500.000 đồng trong vòng 45 ngày (tổng số tiền là 22.500.000 đồng). Việc anh T3 vay tiền thể hiện bằng giấy viết tay, cung cấp thông tin cá nhân và địa chỉ nơi ở, số điện thoại của người vay tiền. Sau khi vay tiền, anh T3 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ và có thái độ lẩn tránh.

Ngày 07/8/2023, biết anh T3 đăng tin vay tiền lên mạng xã hội và để lại số điện thoại cá nhân nên T đã chủ động liên hệ với anh T3 giả vờ cho vay, mục đích đòi tiền đã anh T3 nợ. Ngày 08/8/2023, T liên hệ với anh T3 và hẹn ra quán Cafe J, địa chỉ đường Trường Chinh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội để làm thủ tục cho vay tiền.

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 08/8/2023, anh T3 đi đến quán Cafe J, anh T3 ngồi giữa T và Q, còn N ngồi đối diện cách khoảng 01m. Tại đây, Q và T nói với anh T3 về việc anh T3 nợ tiền nhưng lẩn tránh, không trả; T dùng tay tát vào mặt và vỗ vào gáy anh T3; Q dùng tay vỗ vào gáy anh T3, khi anh T3 phản ứng thì Q dùng chiếc gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh hình tròn kích thước khoảng (12x1,5cm) giơ lên và dọa đánh anh T3. Lúc này, T hỏi tài khoản của anh T3 có tiền không và bảo anh T3 lấy điện thoại ra đăng nhập vào tài khoản ngân hàng để kiểm tra. Thấy trong tài khoản của anh T3 có số tiền 2.481.000 đồng, thì T lấy máy điện thoại của anh T3 rồi nhập số tài khoản 107000749xxx mang tên Dương Đức D1 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam - PVcombank (đây là tài khoản do Phạm Trọng V mua và quản lý) rồi trả lại điện thoại và yêu cầu anh T3 chuyển khoản toàn bộ số tiền 2.400.000 đồng. Trong suốt quá trình trên N ngồi đối diện và không có bất cứ hành động gì.

Khi anh T3 ra về thì gặp V ở cửa quán Café, V nói việc T3 vay tiền mà không trả và dùng điện thoại đang cầm trên tay gõ vào đầu anh T3 khoảng 02 cái thì anh T3 hẹn với V mỗi tuần sẽ trả 5.000.000 đồng. Sau đó, V và T3 đi về, còn T, Q, N ở lại quán.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ những đồ vật, tài sản gồm: Thu giữ của Nguyễn Gia Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh. Thu giữ của Ngô Quang T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu trắng.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo khai nhận:

Khoảng tháng 12/2022, nhóm Phạm Trọng V, Nguyễn Gia Q và Ngô Quang T cho anh Nguyễn Minh T3 vay số tiền 25.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền vay, T3 không trả tiền và lẩn tránh.

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 08/8/2023, tại Quán Cafe J, địa chỉ đường Trường Chinh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội. Ngô Quang T đã dùng tay tát vào mặt và vỗ vào gáy anh T3, Nguyễn Gia Q dùng tay vỗ vào gáy anh T3, do anh T3 có phản ứng nên Q dùng chiếc gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh hình tròn có kích thước khoảng (12x1,5cm) giơ lên để dọa đánh anh T3, mục đích để đòi tiền nợ. Sau đó, T yêu cầu anh T3 đăng nhập vào tài khoản Internet Banking, T nhập số tài khoản nhận 107000749xxx (mang tên Dương Đức D1 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam) rồi đưa lại điện thoại và yêu cầu anh T3 thao tác chuyển số tiền 2.400.000 đồng vào tài khoản trên, mục đích để đòi lại số tiền anh T3 nợ không trả.

Các bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi đã thực hiện; Bị cáo Q đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bố bị cáo đã mất, mẹ bị bệnh hiểm nghèo; Các bị cáo mong muốn được pháp luật khoan hồng vì hành động bột phát, thiếu hiểu biết.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà T2, bà D xác nhận đã tự nguyện nộp tổng số tiền 2.400.000 đồng theo nguyện vọng của các bị cáo; Bà T2, bà D không yêu cầu Tòa án xem xét nghĩa vụ của các bị cáo đối với số tiền đã nộp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tại phiên toà giữ N quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Gia Q về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự, bị cáo Ngô Quang T về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự; Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị HĐXX áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Gia Q từ 42 đến 48 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Quang T từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng; Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công 03 điện thoại thu giữ của các bị cáo; Trả cho anh T3 số tiền 2.400.000 đồng.

Căn cứ vào nội dung vụ án, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự và không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được coi là hợp pháp.

[2]. Hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận:

Khoảng tháng 12/2022, do có nhu cầu vay tiền nên thông qua mạng xã hội anh Nguyễn Minh T3 đã vay số tiền là 25.000.000 đồng (phải trả tiền lãi và gốc trước số tiền 5.000.000 đồng; thực nhận 20.000.000 đồng) của Phạm Trọng V, Nguyễn Gia Q và Ngô Quang T. Sau khi nhận tiền, anh T3 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và có thái độ lẩn tránh.

Ngày 07/8/2023, khi biết anh T3 đăng thông tin vay tiền lên mạng xã hội và để lại số điện thoại cá nhân nên T đã chủ động liên hệ với anh T3 giả vờ cho vay để đòi tiền anh T3 nợ. Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 08/8/2023, khi anh T3 đến nơi hẹn tại Quán Cafe J, địa chỉ đường Trường Chinh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội thì Ngô Quang T dùng tay tát vào mặt và vỗ vào gáy anh T3, còn Nguyễn Gia Q dùng tay vỗ vào gáy anh T3, khi anh T3 có phản ứng thì Q dùng chiếc gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh hình tròn có kích thước khoảng (12x1,5cm) giơ lên dọa đánh để đòi tiền anh T3 nợ. Sau đó, T yêu cầu anh T3 mở điện thoại đăng nhập vào tài khoản tại Internet Banking, T nhập số tài khoản nhận tiền (107000749xxx mang tên Dương Đức D1 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam) rồi đưa lại điện thoại cho anh T3 và yêu cầu anh T3 thực hiện chuyển số tiền 2.400.000 đồng từ trong tài khoản của anh T3 đến tài khoản trên, mục đích để chiếm đoạt; Vì vậy, Ngô Quang T đã phạm tội Cướp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự; Nguyễn Gia Q đã phạm vào tội Cướp tài sản thuộc trường hợp sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo theo điều luật và tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và sức khỏe của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với mức độ gây nguy hại do từng bị cáo gây ra. Vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thực hiện tội phạm, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể; Bị cáo Q có nhân thân tốt, bị cáo T có 02 tiền sự nhưng đều đã được xóa.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, các bị cáo đều đầu thú; Hai bị cáo đã yêu cầu gia đình cùng nhau khắc phục toàn bộ thiệt hại; nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Nhận thấy: Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; Bị hại có lỗi vay tiền nhưng không trả mà có thái độ lẩn tránh, gây bức xúc cho các bị cáo nên các bị cáo mới có hành động dùng vũ lực gây sức ép, với mục đích để lấy lại tiền của mình đã cho vay. Do vậy, có thể cho bị cáo Ngô Quang T hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và cho bị cáo Nguyễn Gia Q hưởng mức án thấp dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người tốt, thể hiện sự nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

[4]. Các vấn đề khác:

4.1. Đối với Phạm Trọng V: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tách tài liệu, hành vi của Phạm Trọng Vũ để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý theo quy định nên Hội đồng không xem xét.

4.2. Đối với hành vi cho vay lãi trong giao dịch dân sự của Nguyễn Gia Q, Ngô Quang T: Việc các bị cáo T, Q cho anh T3 vay số tiền 25.000.000 đồng, lãi suất 2.500.000 đồng/50 ngày tương đương với mức lãi suất là 73%/1 năm. Do Hành vi của Q, T chưa đủ yếu tố cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Ngày 03/4/2024, UBND quận Đống Đa đã ra Quyết định xử phạt hành chính với mức phạt 15.000.000 đồng đối với Nguyễn Gia Q; 15.000.000 đồng đối với Ngô Quang T nên không xét.

4.3. Đối với tài khoản số 107000749xxx mang tên Dương Đức D1 mở tại Ngân hàng PVcombank: Q, T, N khai đây là tài khoản ngân hàng do Phạm Trọng V quản lý, nhận và chuyển tiền đi. Tại Công văn số 24922/PVB-PC&TT ngày 08/11/2023 của Ngân hàng Pvcombank cung cấp: Tài khoản số 107000749xxx là của Dương Đức D1 (sinh năm 1991; phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội), sử dụng số điện thoại 0912020xxx. Tại Cơ quan điều tra, anh Dương Đức D1 trình bày không đăng ký, sử dụng tài khoản ngân hàng trên. Tại Công văn số 23/KTM-ANM ngày 10/01/2024 của Ban khai thác mạng - Tổng Công ty Hạ tầng mạng cung cấp không có thông tin số điện thoại 0912020xxx nên không có căn cứ xem xét.

Cơ quan điều tra tiến hành rà soát Camera tại quán Cafe J - đường Trường Chinh do anh Phạm Ngọc Đức H (sinh năm 2002; trú tại Trường Chinh, Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội) là quản lý quán Cafe J cung cấp, tuy nhiên hệ thống Camera không có dữ liệu lưu trữ.

4.4. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã nộp khắc phục, bồi thường toàn bộ thiệt hại theo nguyện vọng của các bị cáo, nên toàn bộ số tiền khắc phục hậu quả được trả cho anh T3.

Bà D, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm dân sự của các bị cáo đối với số tiền này nên không xét.

4.5. Vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu xanh thu giữ của Nguyễn Gia Q và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu trắng thu giữ của Ngô Quang T do trực tiếp liên quan đến việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, thu giữ của Ngô Quang T, tuy không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Gia Q và bị cáo Ngô Quang T phạm tội "Cướp tài sản".

Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 168; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Gia Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 10/8/2023.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Nghị quyết 02/2018 và Nghị quyết 01/2022.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Quang T 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Ngô Quang T cho Ủy ban nhân dân phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ: Khoản 6 Điều 168 đối với bị cáo T; Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án).

- Trả anh Nguyễn Minh T3 số tiền 2.400.000 đồng (gồm 1.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 19096 ngày 20/6/2024 và 1.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 19096 ngày 20/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa).

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu trắng (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 198 ngày 17/5/2024 giữa Công an quận Đống Đa với Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa phản ánh).

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THA quận Đống Đa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS/VP.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA về hình sự sơ thẩm về tội cướp tài sản

  • Số bản án: 164/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger