|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc. |
|
Bản án số: 164/2023/HS-ST Ngày: 17 - 11 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Gái
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền và bà Bùi Thị Kim Loan.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đạt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:
Ông Trần Quang Thắng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 11 năm 2023; tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2023/TLST-HS ngày 11/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2023/QĐXXST - HS ngày 06/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Tuyết M - Tên gọi khác: không;
Sinh ngày 08/6/1975, tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: Tổ C, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa; Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Kế toán; con ông: Lê Đức L và bà Vũ Thị T; chồng: Trần Doãn B, sinh năm 1973; có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 06/5/2023 đến ngày 15/5/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Công ty TNHH D, người đại diện theo pháp luật ông Lê Đức T1, sinh năm 1973, nơi cư trú: tổ F, khu T, phường C, thành phố C, Quảng Ninh; vắng mặt.
- Chị Phan Thị Thanh T2, sinh năm 1976, trú tổ D, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Phan Văn T3; sinh năm 1975, nơi cư trú: Tổ E, khu N, phường C, T, Quảng Ninh.
- Chị Phan Thị N, sinh năm 1991, nơi cư trú: tổ E, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
2. Chị Trần Thị Huyền P, sinh năm 1983, nơi cư trú: tổ A, khu G, phường C, C, Quảng Ninh; (người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH D (viết tắt là Công ty D) được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 5701941621 ngày 28/6/2018 của Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Q, mã số thuế 5701941621, có trụ sở tại tổ C, khu T, phường C, thành phố C; người đại diện theo pháp luật là ông Lê Đức T1 – chức vụ Giám đốc. Tuy nhiên Công ty D chủ yếu do Lê Thị Tuyết M (em ruột ông T1) bỏ vốn chính để kinh doanh vật liệu xây dựng và thuê của Công ty cổ phần C 1.500m2 tại Cụm C, thành phố C để làm bãi tập kết vật liệu xây dựng. M làm Kế toán trưởng, nhưng điều hành mọi hoạt động của Công ty, trực tiếp mua, bán hàng hoá, quản lý Công ty, sổ sách, hợp đồng, thu chi quỹ, xuất và nhận hóa đơn, chứng từ. Còn ông T1 ký hóa đơn, chứng từ do M đề xuất và giao nhận hàng hoá tại kho bãi của Công ty. Từ cuối tháng 11/2021, M thuê chị Trần Thị Huyền P làm báo cáo thuế hàng tháng và được M trả lương 2.000.000 đồng/tháng.
Quá trình kinh doanh, M trực tiếp mua vật liệu xây dựng (cát, đá, đất...) của nhiều người, nhưng không có hoá đơn đầu vào. Để có hoá đơn giá trị gia tăng (viết tắt là: GTGT) hợp thức hoá nguồn gốc hàng hoá trên nhằm bán được cho các doanh nghiệp, cá nhân khác và kê khai thuế tháng 12/2022, ngày 29/12/2022 M đã mua của người tên là T4 (không rõ nhân thân, địa chỉ) 10 số hóa đơn GTGT khống (đã ghi nội dung mua cát, đá, đất.. theo yêu cầu của M nhưng không có hàng hóa kèm theo) tổng giá trị tiền hàng là 10.801.730.000 đồng, tổng tiền thuế GTGT là 1.080.173.000 đồng, đơn vị xuất hoá đơn là Công ty TNHH D (viết tắt là Công ty D).
Ngày 06/02/2023, M tự ý xuất bán khống 02 số hoá đơn GTGT cho Phan Thị Thanh T2 hoá đơn số 00000008 có tổng giá trị là 6.118.200 đồng, đơn vị mua hàng ghi trên hoá đơn là Công ty D – Chi nhánh Tổng Công ty Đ; hoá đơn số 00000009 (do Phan Văn T3 nhờ T2 mua) có tổng giá trị là 11.957.000 đồng, đơn vị mua hàng ghi trên hoá đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 – Chi nhánh C1 để M được hưởng lợi 1.650.000đồng. Ngày 06/5/2023 bị cáo đến Công an thành phố C đầu thú.
Tại Kết luận giám định ngày 08/6/2023 của Cục thuế tỉnh Q kết luận: 10 số hóa đơn GTGT của Công ty TNHH D do Lê Thị Tuyết M mua trái phép để kê khai vào kỳ tính thuế tháng 12/2022, số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ số tiền 1.080.173.000 đồng
Xác định số thuế GTGT trốn là không đồng. Không đủ căn cứ xác định số thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với 10 số hóa đơn mà Công ty D đã sử dụng để khai thuế.
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo Lê Thị Tuyết M đều khai nhận: là Kế toán trưởng Công ty TNHH D, từ cuối năm 2022 Công ty D ký hợp đồng với các đơn vị doanh nghiệp về việc bán hàng hóa là vật liệu xây dựng, để hợp thức hóa đầu vào cho các hàng hóa trôi nổi do Công ty D đã mua bán, bị cáo đã
mua 10 hóa đơn GTGT khống của Công ty D. Cụ thể ngày 29/12/2022 qua mạng xã hội bị cáo đã trao đổi với người tên T4 để mua 10 hóa đơn GTGT có nội dung hàng hóa là các mặt hàng vật liệu xây dựng với giá trị hơn 11 tỷ đồng với giá tiền bán hóa đơn bằng 7% của giá trị tiền hàng hàng ghi trên hóa đơn, bị cáo gửi bảng kê hàng hóa đã được làm cho T4 qua ứng dụng Viber, sau đó T4 gửi 10 hóa đơn GTGT đính kèm vào tài khoản email của bị cáo để bị cáo in 10 hóa đơn thành bản giấy để sử dụng, bị cáo gặp T4 để thanh toán tiền mua hóa đơn với số tiền 770.000.000 đồng, trong 10 tờ hóa đơn đã mua bị cáo làm khống các hợp đồng, chứng từ đưa cho anh T1 ký, đóng dấu, rồi đưa toàn bộ hợp đồng, biên bản giao nhận cho T4 để Công ty D ký, đóng dấu nhưng bị cáo chưa nhận lại bản hợp đồng, giữa bị cáo và T4 chưa hợp thức hóa việc thanh toán tiền mua bán hàng hóa thì bị Công an phát hiện.
Chị Trần Thị Huyền P khai nhận: Quen biết và được nghe M mở công ty TNHH D theo hình thức công ty gia đình, T1 là anh trai của M làm Giám đốc, M quản lý chung, từ cuối tháng 11/2021 đến cuối tháng 4/2023 M thuê tôi làm thống kê sổ sách chứng từ trung bình mỗi tháng/lần M gọi điện cho tôi đến nơi ở là trụ sở Công ty TNHH D, lúc thì M đến gặp tôi tại kho hàng ở khu vực Cẩm Bình M đưa tôi các tờ giấy ghi hóa đơn GTGT, chứng từ thu chi đã ghi đầy đủ nội dung, tôi căn cứ vào đó nhập số liệu. Đến cuối tháng 4.2023 M yêu cầu tôi giao trả lại toàn bộ các giấy tờ để M cất giữ.
Chị Phan Thị Thanh T2 khai nhận: Điện lực Cẩm P1 sử dụng các loại vật tư thiết bị do Đ2, tuy nhiên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh khi có sự cố cần sửa chữa, khắc phục mà thiếu vật tư nhỏ lẻ. Điện lực C2 đề xuất mua vật tư tại địa bàn C và báo cáo số lượng, giá vật tư cho Công ty D để duyệt theo quy định, trong khi thực hiện nhiệm vụ tôi không mua, nhập hàng hóa của công ty D, tuy nhiên tôi có mua hóa đơn GTGT (không có hàng hóa kèm) của Công ty D để hợp thức hóa số vật tư đã mua, cụ thể mua 01 hóa đơn GTGT ghi đơn vị mua hàng là Công ty D - Chi nhánh Tổng Công ty Đ, tổng tiền hàng: 5.562.000 đồng, tiền thuế 556.200 đồng. Đầu tháng 2/2023 Điện lực C2 có sửa chữa trạm biến áp tại Ngân hàng B1, vật tư thay thế gồm cầu chì, dầu máy biến áp, chống sét, đầu cốt, tôi đã mua hộ Phan Văn T3 01 tờ hóa đơn của Công ty D xuất cho Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh C1, tiền hàng: 10.957.000 đồng, thuế: 1.087.000 đồng; tổng cộng các khoản thanh toán: 11.957.000 đồng.
Anh Phan Văn T3 có lời khai phù hợp với lời khai của chị Phan Thị Thanh T2; ông Lê Đức T1 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo Lê Thị Tuyết M, phù hợp với lời khai của chị Trần Thị Huyền P.
Bản Cáo trạng số: 140/CT-VKSCP ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Lê Thị Tuyết M về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 203, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Thị Tuyết M từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Số tiền thu lợi 1.650.000 đồng, bị cáo tự nguyện nộp lại tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Thị Tuyết M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo không tranh luận và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Tuyết M đều khai nhận: Ngày 29/12/2022 Lê Thị Tuyết M - là chủ sở hữu Công ty D, bị cáo M mua trái phép 10 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung của Công ty D (hiện đang xác minh) để hợp thức số hàng hoá mua trôi nổi, tổng số tiền ghi trên hoá đơn là 11.881.903.000 đồng, rồi sử dụng khai báo thuế tháng 12/2022 và hợp thức số hàng còn tồn bán cho các doanh nghiệp mua hàng sau ngày 29/12/2022. Đến ngày 06/02/2023, bị cáo M bán trái phép 02 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung với tổng giá trị ghi trên hoá đơn là 18.075.000 đồng cho Phan Thị Thanh T2 để thu lợi 1.650.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan người đại diện cho công ty TNHH D ông Lê Đức T1, chị Phan Thị Thanh T2, lời khai người làm chứng anh Phan Văn T3, chị Phan Thị N, chị Trần Thị Huyền P, kết luận giám định ngày 08/6/2013 của Cục thuế tỉnh Q cùng nhiều tài liệu, chứng cứ khác.
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận: Ngày 29/12/2022, Lê Thị Tuyết M - là chủ sở hữu Công ty D, mua trái phép 10 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung của Công ty D (hiện đang xác minh) để hợp thức số hàng hoá mua trôi nổi, tổng số tiền ghi trên hoá đơn là 11.881.903.000 đồng, rồi sử dụng khai báo thuế tháng 12/2022 và hợp thức số hàng còn tồn bán cho các doanh nghiệp mua hàng sau ngày 29/12/2022. Đến ngày 06/02/2023, M bán trái phép 02 hoá đơn GTGT đã ghi nội dung với tổng giá trị ghi trên hoá đơn là 18.075.000 đồng cho Phan Thị Thanh T2 để thu lợi 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thị Tuyết M phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật hình sự.
Vậy việc truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng số 140/CT-VKSCP ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội.
Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là người có hiểu biết song do tham lam, tư lợi nên đã phạm tội, trong ngày 29/12/2022 bị cáo đã mua trái phép 10 hóa đơn GTGT đã ghi của Công ty D để hợp thức hóa số hàng hóa mua trôi nổi, tổng số tiền ghi trên hóa đơn là 11.881.903.000 đồng, rồi sử dụng khai báo thuế tháng 12/2022 và hợp thức số hàng còn tồn bán cho các doanh nghiệp mua hàng sau ngày 29/12/2022. Đến ngày 06/02/2023 bị cáo bán trái phép 02 hóa đơn GTGT đã ghi nội dung với tổng giá trị ghi tên hóa đơn là 18.075.000 đồng cho chị Phan Thị Thanh T2 để thu lợi số tiền 1.650.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm.
Song cần xét: sau khi phạm tội bị cáo đầu thú trước cơ quan Công an và khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện nộp lại khoản thu lợi bất chính để sung ngân sách Nhà nước, ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cân xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Số tiền thu lời 1.650.000 đồng do bị cáo M tự nguyện nộp nay tịch thu sung Ngân sách Nhà nước theo quy định.
[3] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
[4] Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Quá trình điều tra thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG kèm 01 sim số 0977712358 của ông Lê Đức T1; 01 hộp dấu hình tròn ghi Công ty TNHH D; 01 hộp dấu hình chữ nhật ghi “Giám đốc Lê Đức T1”; 01 cây máy tính để bàn; USB Token màu đen tạm giữ của Công ty D. Ông Lê Đức T1 đại diện theo pháp luật của Công ty D không biết việc M sử dụng để thực hiện phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại ông T1 nên không đề cập. Đối với 12 số hoá đơn GTGT mua, bán khống và các tài liệu kèm theo là tài liệu, chứng cứ nên lưu hồ sơ vụ án.
Đối với Công ty D - có địa chỉ tại thôn Đ, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng và người tên T4 theo bị cáo khai có hành vi bán trái phép hóa đơn cho Công ty D, hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đang phối hợp giải quyết để xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với ông Lê Đức T1 ký séc để M rút tiền mua trái phép hoá đơn và ký chứng từ liên quan đến 01 số hoá đơn do bị cáo bán khống là do thiếu cẩn trọng, nhưng không gây thiệt hại về tài sản cho Công ty D và không biết việc bị cáo mua bán trái phép hoá đơn nên không đủ căn cứ xử lý về hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Chị Trần Thị Huyền P có liên quan đến việc lập chứng từ làm báo cáo thuế đối với 12 tờ hoá đơn GTGT, nhưng không biết việc M mua bán trái phép hoá đơn nên không đề cập xử lý.
Đối với Phan Thị Thanh T2 và Phan Văn T3 (anh T3 là nhân viên của Điện lực thành phố C2, thuộc Công ty D nhờ T2 mua hộ 01 hóa đơn) có hành vi mua trái phép 02 số hoá đơn GTGT khống đã ghi nội dung, nhưng chưa đến mức xử lý về hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự. Còn Công ty D - Chi
nhánh Tổng Công ty Đ và Ngân hàng B2 – Chi nhánh C1 có hành vi sử dụng trái phép 02 hoá đơn GTGT không hợp pháp của Công ty D nhưng không biết việc T2 và T3 mua hóa đơn khống. Cơ quan điều tra đã thông báo cho cơ quan thuế để xử lý theo quy định.
Đối với 27 Công ty, đơn vị gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạD (viết tắt là TNHH) sản xuất kinh doanh thương mại H, Công ty TNHH D, Công ty TNHH một thành viên D, Công ty cổ phần K, Công ty TNHH một thành viên D, Công ty TNHH một thành viên D, Công ty TNHH một thành viên D, Công ty TNHH D, Công ty cổ phần X, Công ty TNHH một thành viên D, Công ty TNHH D, Công ty cổ phần C3, Công ty TNHH D, Công ty TNHH D – Chi nhánh Q, Công ty TNHH D (Hà Nội), Công ty cổ phần D, Công ty cổ phần C4, Công ty cổ phần D, Công ty cổ phần Đ3, Công ty TNHH D, Công ty TNHH D, Công ty TNHH D, T4 Cao đẳng công nghiệp và xây dựng, Công ty TNHH D, Công ty cổ phần X1, Công ty cổ phần X1, quá trình điều tra xác định có mua hàng hóa thật của Công ty D, không biết việc Công ty D mua hóa đơn khống nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 203, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Tuyết M phạm tội: “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Xử phạt: Lê Thị Tuyết M 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên bố: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và quyết định “Tạm hoãn xuất cảnh' ngày 13/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Lê Thị Tuyết M.
Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm trăm năm mươi nghìn đồng) tiền thu lời bất chính do bị cáo Lê Thị Tuyết M tự nguyện nộp lại theo biên bản bàn giao tài sản số 75/2023/BBBG-CQCSĐTCATPCP ngày 11/9/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Kho bạc nhà nước Cẩm Phả, được thi hành theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 08/BB-THA ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Thị Tuyết M phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận :
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Gái |
Bản án số 164/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 164/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thị Tuyết Mai phạm tội: “Mua bán trái phép hóa đơn”
