Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 164/2024/DSPT

Ngày 10/12/2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quế.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ và bà Lê Thị Hồng Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Bà Lê Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 06 và ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 125/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2024/DSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 192/QĐPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nông Văn D, sinh năm 1960;

    Địa chỉ: Xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Thế H và ông Nông Văn T đều là Luật sư của Công ty L1, thuộc đoàn Luật sư thành phố H (có mặt ông T vắng mặt ông H).

  2. Bị đơn: Ông Nông Văn C, sinh năm 1993;

    Địa chỉ: Xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nông Văn T1, sinh năm 1964 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
    2. Bà Hà Thị V, sinh năm 1959 (vắng mặt có uỷ quyền cho ông C).
    3. Bà Nông Thị N, sinh năm 1955 (có mặt).
    4. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1986 (vắng mặt uỷ quyền cho ông C).
    5. Bà Lường Thị Đ, sinh năm 1956 (vợ ông D có mặt).
    6. Ông Nông Văn Q, sinh năm 1982 (vắng mặt uỷ quyền cho ông D).
    7. Các đương sự đều cùng địa chỉ: Xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

    8. Ông Nông Văn X (vắng mặt có uỷ quyền cho ông D).
    9. Địa chỉ: Xóm B, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

      Người đại diện theo uỷ quyền của bà Lường Thị Đ, ông Nông Văn Q, ông Nông Văn X: Là ông Nông Văn D, sinh năm 1961, địa chỉ: Xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

    10. Bà Nông Thị Y, sinh năm 1990;
    11. Địa chỉ: Xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt có uỷ quyền cho ông C).

    12. Bà Nông Thị V1, sinh năm 1980
    13. Địa chỉ: Xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt có uỷ quyền cho ông C).

    14. Bà Nông Thị C1, sinh năm 1985
    15. Địa chỉ: Xóm T, xã C, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt có uỷ quyền cho ông C).

    16. Bà Nông Thị L, sinh năm 1988
    17. Địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt có uỷ quyền cho ông C).

    18. Bà Ma Thị H2, sinh năm 1962;
    19. Địa chỉ: Xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin xét xử vắng mặt)

      Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nông Thị Y, bà Nông Thị V1, bà Nông Thị L, bà Nông Thị C1: Là ông Nông Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn ông Nông Văn D trình bày: Ông có một thửa đất tại xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên là thửa số 08 khoảnh 2 tiểu khu C Bản đồ giao đất giao rừng, ông đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông, cấp năm 1998. Tháng 06/2021 gia đình ông phát dọn bãi, thì phát hiện ông Nông Văn C trồng cây và chôn mộ vào đất nhà ông, ông đã báo chính quyền để giải quyết. Xóm xã đã tiến hành hòa giải nhưng không thành, chuyển Tòa án giải quyết, tuy nhiên sau khi Tòa án về đo đạc không hiểu xác định như thế nào phần đất đang tranh chấp không nằm trong phần đất của gia đình ông, nên ông rút đơn để có thời gian xem xét nghiên cứu lại. Nay ông xem xét đối chiếu xác định chính xác nó nằm trong phần đất ông đã được cấp giấy chứng nhận nên ông khởi kiện lại.

Nay ông yêu cầu Tòa án buộc ông Nông Văn C trả lại ông phần đất đang tranh chấp có diện tích 5.858,4m², buộc ông Nông Văn C khai thác, di rời toàn bộ số cây Tre măng (T) đã trồng và phần mộ gia đình ông C đã an táng để trả lại đất cho gia đình ông quản lý sử dụng. Yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 13.000.000 đồng do ông không sử dụng được đất. Trường hợp ông C đồng ý thì chỉ phải di rời mộ còn Tre măng ông sẽ trả tiền cho ông C theo giá Tòa án đã định giá.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Khuông Thanh Đ1 đồng ý với phần trình bày của nguyên đơn, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại 5.858,4m² đất, buộc ông Nông Văn C khai thác, di rời toàn bộ số cây Tre măng (T) đã trồng và phần mộ gia đình ông C đã an táng để trả lại đất cho gia đình ông D quản lý sử dụng. Yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 13.000.000 đồng do ông D không sử dụng được đất. Không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn.

Bị đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị V1, bà Nông Thị C1, bà Nông Thị L, bà Nông Thị Y là ông Nông Văn C trình bày: Ông bị ông Nông Văn D khởi kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại tài sản. Ông cũng có yêu cầu phản tố đối với ông Nông Văn D về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với phần đất ông D đang quản lý có diện tích 6.933,2m² thuộc lô 6 khoảnh 2 tiểu khu C Bản đồ giao đất giao rừng xã S, huyện V. Khu đất này là do ông cha ông khai phá, năm 1986 bố ông là ông Nông Quang T2 được chia phần diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp để phát triển kinh tế. Năm 1996 bố ông được Nhà nước giao đất giao rừng, theo bản đồ khu đất thuộc Lô F, khoảnh 2 tiểu khu C có tiếp giáp với lô 5 của ông Nông Văn D và lô 7 của chú ông là ông Nông Văn T1. Diện tích đất trên đã được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nông Quang T2 với diện tích 10,5 ha thuộc lô 6 khoảnh 2 tiểu khu C. Ba nhà cũng đã thống nhất ranh giới vị trí lô số 6 giáp ranh số 5 của ông D lấy từ chòi ông Nông Văn K theo khe Xuân H3 lên đến đỉnh dông đỉnh đồi với lô số 7 có đào hào làm ranh giới. Đến năm 2006 ông Nông Văn D thuê người phát cây rừng nguyên sinh để trồng cây theo dự án 661 vào lô số 6 của bố ông là ông Nông Quang T2 với diện tích 3 ha, bố ông đã làm đơn báo cáo về việc lấn chiếm của ông D cho xóm và đã được cán bộ địa chính xã giải quyết vào ngày 07/4/2006 là đất thuộc lô số 6 của gia đình ông (có biên bản kèm theo). Ngày 02/10/2015 ông Nông Văn D đã làm đơn khởi kiện gia đình ông. Theo biên bản giải quyết lô đất của ông D thuộc lô số 8 tiếp giáp với lô số 7 nên không đủ thẩm quyền giải quyết vì vị trí ông D làm đơn khởi kiện vẫn nằm trong lô số 6 khoảnh 2 tiểu khu C nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố ông là ông Nông Quang T2. Năm 2021 ông D cho con trai là ông Nông Văn X khai thác cây Keo tái sinh từ dự án 661 mà ông D trồng xuống. Ông là con trai ông Nông Quang T2 được thống nhất với ông Nông Văn X là con ông D, ông X có cam kết với gia đình ông sau khi khai thác cây keo giữ nguyên mặt bằng đất trả lại đất cho ông, tại giấy cam kết cũng khẳng định vị trí lô 6 và hai bố con ông D cũng đã ký tên. Ngày 06/8/2021 ông D tiếp tục làm đơn khởi kiện gia đình ông với lý do trồng cây tre măng Trúc Bát Độ xuống đất của ông D. Đến năm 2022 ông D tiếp tục làm đơn lên Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai. Ngày 11/8/2023 theo kết quả thẩm định thì vị trí ông D làm đơn khởi kiện vẫn là vị trí lô số 6, khoảnh 2 tiểu khu C là của gia đình ông Nông Văn C có trong hồ sơ đã giải quyết tại Tòa án và đã có quyết định đình chỉ số 18/2023/QĐST-DS ngày 11/8/2023. Ngày 26/10/2023 ông D tiếp tục làm đơn lên Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai yêu cầu ông trả lại phần đất đã trồng tre măng T3 Bát Độ cho ông D và buộc ông di dời toàn bộ số tre măng đã trồng và phần mộ an táng, quan điểm ông không nhất trí, bản thân ông cũng đề nghị Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai và các cấp có thẩm quyền giải quyết vụ án rõ ràng, đúng theo giấy chứng nhận đã được cấp năm 1996 để gia đình ông canh tác và làm kinh tế.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • - Bà Lường Thị Đ trình bày: Bà là vợ ông D, gia đình bà có một thửa đất tại xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên là thửa số 08 khoảnh 2 tiểu khu C Bản đồ giao đất giao rừng, ông D đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông D, cấp năm 1998. Bà và ông D kết hôn năm 1976, năm 1998 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hồ sơ giao đất là hộ gia đình. Tại thời điểm cấp giấy gia đình có các con là Nông Văn S, Nông Văn C2, Nông Văn Q, Nông Văn X. Hiện tại gia đình gồm ông, bà Lường Thị Đ, ông Nông Văn Q, còn ông Nông Văn S, Nông Văn C2 ở riêng và ở cùng xóm, ông Nông Văn X ở riêng tại xóm B, xã S Ông Nông Văn C2 hiện tại đang đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan. Về phần đất đang tranh chấp ông bà đã chia cho ông Nông Văn X. Tháng 06/2021 gia đình bà phát dọn bãi, thì phát hiện ông Nông Văn C trồng cây và chôn mộ vào đất nhà bà, gia đình đã báo chính quyền để giải quyết. Xóm xã đã tiến hành hòa giải nhưng không thành, chuyển Tòa án giải quyết, tuy nhiên sau khi Tòa án về đo đạc không hiểu xác định như thế nào và tại sao phần đất đang tranh chấp không nằm trong phần đất của gia đình bà đã nhận, nên ông D rút đơn để có thời gian xem xét nghiên cứu lại. Nay ông D xem xét đối chiếu xác định chính xác nằm trong phần đất gia đình đã được cấp giấy chứng nhận nên khởi kiện lại. Nay bà yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng hợp pháp của ông D đối với phần đất đang tranh chấp, buộc ông C khai thác, di dời toàn bộ số cây đã trồng và phần mộ đã an táng trả lại đất cho gia đình bà.
  • - Ông Nông Văn Q trình bày: Ông là con trai ruột của ông Nông Văn D và là em họ của ông Nông Văn C. Ông có biết việc ông D khởi kiện ông C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Gia đình ông có thửa đất tại xóm N, xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên là thửa số 08, khoảnh 2, tiểu khu C bản đồ giao đất giao rừng, bố ông đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998. Nay ông yêu cầu Toà án công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với ông D và buộc ông C di dời cây trồng và phần mộ an táng trả lại đất cho ông D để quản lý, sử dụng.
  • - Ông Nông Văn X trình bày: Ông là con của ông Nông Văn D và anh em họ với ông Nông Văn C. Năm 2005 ông được ông D là bố đẻ chia cho phần đất đang tranh chấp với ông C. Phần diện tích đất chưa làm thủ tục chuyển nhượng. Năm 2021 ông có khai thác gỗ tại phần đất đang tranh chấp và sau đó lại trồng cây. Sau khi đi cai nghiện ông đã giao lại cho anh trai là ông Nông Văn Q chăm sóc. Năm 2021 khi ông dặm cây đã thấy phần mộ và cây của nhà ông C ở góc mảnh đất hiện nay đang tranh chấp. Nay ông D khởi kiện giải quyết tranh chấp đất đai với ông C ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • - Bà Nông Thị C1, bà Nông Thị V1, bà Nông Thị Y, bà Nông Thị L đều trình bày: Ông D là chú họ và ông C là em trai ruột của các bà. Các bà có biết việc ông D khởi kiện ông C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại lô đất số 6, khoảnh 2 tiểu khu C đất lâm nghiệp xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Diện tích đã được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố của các bà là ông Nông Quang T2 (ông T2 mất từ năm 2016). Về nguồn gốc đất tranh chấp hiện nay là do ông bà nội khai phá và để lại đất cho bố mẹ các bà là bà Hà Thị V và ông Nông Quang T2. Năm 1996 bố mẹ các bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm có các thành viên: Ông Nông Văn T4, bà Nông Thị V2, ông Nông Quang T2, bà Hà Thị V, bà Nông Thị N, bà Nông Thị L, bà Nông Thị V1, bà Nông Thị C1, bà Nông Thị Y, ông Nông Văn C. Thời điểm đó gia đình trồng sắn, sau đó đến năm 2004 do trồng sắn không thành nên gia đình mới chuyển sang trồng trúc. Năm 2006 ông D thuê người phát cây rừng nguyên sinh để trồng cây theo dự án 661 vào lô số 6 của gia đình bà nên bố các bà là ông Nông Quang T2 có báo cáo về việc lấn chiếm của ông D cho xóm, xã và được Cán bộ địa chính xã S giải quyết. Đến năm 2015 ông D làm đơn khởi kiện tuy nhiên theo biên bản giải quyết thì lô đất mà ông D khởi kiện là lô đất của ông T2 nên việc hoà giải không thành. Đến năm 2016 khi ông Nông Quang T2 mất thì gia đình có an táng phần mộ trên lô số F, khoảnh 2, tiểu khu C. Năm 2021 ông D có khai thác cây keo tái sinh theo dự án 661 và em trai các bà là Nông Văn C có yêu cầu làm biên bản trả đất cho ông C để khai thác số keo, ông D và con trai là ông Nông Văn X đồng ý làm biên bản để khai thác toàn bộ số cây keo và trả lại đất cho gia đình ông C. Khi chưa khai thác xong bãi keo ông D tiếp tục đốt bãi để trồng tiếp, ông C có gọi xóm, xã vào giải quyết nhưng ông D vẫn tiếp tục trồng keo. Năm 2022 ông D có làm đơn ra Toà án nhân dân huyện Võ Nhai để giải quyết và đã có Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 18/2023/QĐST - DS ngày 11/8/2023. Đến tháng 10/2023 ông D một lần nữa làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận quyền sử hợp pháp của ông D đối với phần đất đang tranh chấp, buộc ông C khai thác, di dời toàn bộ số cây trồng và phần mộ an táng, ý kiến của các bà không nhất trí vì đây là đất của bố mẹ các bà đã quản lý, sử dụng ổn định, yêu cầu ông D trả lại đất cho ông C quản lý, sử dụng.
  • - Bà Trần Thị H1 trình bày: Bà là cháu dâu họ của ông D và là vợ của ông C. Năm 2022 bà và ông C kết hôn, khi vào làm dâu thì mới được mẹ chồng là bà Hà Thị V kể lại tử năm 1996 gia đình có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại lố số 6, khoảnh 2 tiểu khu C đất lâm nghiệp xã sảng mộc, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Thời điểm hiện tại vẫn đang trồng tre Trúc Bát độ. Từ lúc ông D khởi kiện, bãi tre măng Trúc Bát Độ bà và ông C vẫn lên phát quang và lấy măng khi đến mùa và cùng các anh chị chăm sóc, canh tác các bãi khác của gia đình. Năm 2022 khi bà lấy ông C đã xảy ra tranh chấp và bà cũng chỉ được mọi người kể lại sự việc như vậy, ngoài ra bà không biết thông tin gì thêm. Bà yêu cầu Tòa án buộc ông D trả lại đất cho ông C quản lý, sử dụng là phần diện tích ông Nông Quang T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • - Bà Hà Thị V trình bày: Bà là mẹ đẻ của ông Nông Văn C và là chị dâu của ông Nông Văn D. Bà có biết việc ông D khởi kiện ông C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại lô đất số 6, khoảnh 2 tiểu khu C đất lâm nghiệp xã S, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Diện tích đã được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chồng của bà là ông Nông Quang T2 (Hiện nay chồng bà đã mất từ năm 2016). Về nguồn gốc đất tranh chấp hiện nay là do từ thời ông bà đã khai phá canh tác đến năm 1978 khi bà lấy ông T2 thì vợ chồng bà bắt đầu quản lý, sử dụng từ đấy. Đến năm 1986 đại diện UBND xã vào, gia đình bà và ông D đều được chỉ rõ ranh giới, gia đình có đào hào đến năm 1996 gia đình đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm có các thành viên: Ông Nông Quang T2, bà Hà Thị V, bà Nông Thị N, chị Nông Thị L, chị Nông Thị V1, chị Nông Thị C1, chị Nông Thị Y, ông Nông Văn C, thời điểm đó gia đình trồng sắn, sau đó đến năm 2004 do trồng sắn không thành nên gia đình mới chuyển sang trồng trúc. Năm 2006 ông D thuê người phát cây rừng nguyên sinh để trồng cây theo dự án 661 vào lô số 6 của gia đình bà nên chồng bà là ông Nông Quang T2 có báo cáo về việc lấn chiếm của ông D cho xóm, xã và được Cán bộ địa chính xã S giải quyết. Đến năm 2015 ông D làm đơn khởi kiện tuy nhiên theo biên bản giải quyết thì lô đất mà ông D khởi kiện là lô đất của ông T2 nên việc hoà giải không thành. Đến năm 2016 khi chồng bà là ông Nông Quang T2 mất thì gia đình có an táng phần mộ của chồng bà trên lô số 6, khoảnh 2, tiểu khu C. Năm 2021 ông D có khai thác cây keo tái sinh theo dự án 661 và con trai bà là ông Nông Văn C có yêu cầu làm biên bản trả đất cho ông C, ông D và con trai là ông Nông Văn X đồng ý làm biên bản để khai thác toàn bộ số cây keo và trả lại đất cho gia đình ông C. Khi chưa khai thác xong bãi keo ông D tiếp tục đốt bãi để trồng tiếp, ông C có gọi xóm, xã vào giải quyết nhưng ông D vẫn tiếp tục trồng keo. Năm 2022 ông D có làm đơn ra Toà án nhân dân huyện Võ Nhai để giải quyết và đã có Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 18/2023/QĐST - DS ngày 11/8/2023. Đến tháng 10/2023 ông D một lần nữa làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án Công nhận quyền sử dụng hợp pháp của ông D đối với phần đất đang tranh chấp, buộc ông C khai thác, di dời toàn bộ số cây trồng và phần mộ an táng bà không nhất trí vì đây là đất của gia đình bà đã quản lý, sử dụng ổn định, yêu cầu ông D trả lại đất cho con trai bà là ông Nông Văn C quản lý, sử dụng.
  • - Bà Nông Thị N trình bày: Bà là chị gái họ của ông D và là bác ruột của ông C. Bà có biết ông D khởi kiện ông C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Năm 1980 bà ở cùng với gia đình ông Nông Quang T2 và được chia cho một mảnh đất gần ruộng với ông Nông Quang T2. Năm 1996 khi chia ranh giới thì thống nhất một bên ao là của ông Nông Văn D và bên kia ruộng là của ông Nông Quang T2. Năm 1996 ông T2 được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà cũng là một trong những thành viên của hộ gia đình. Thời điểm đó bà cùng các thành viên trong hộ gia đình cùng nhau phát bãi trồng lúa, sau đó trồng sắn, đến thời điểm hiện tại đang trồng trúc. Năm 1998 bà ra ở riêng và đã canh tác mảnh đất khác. Nay ông D khởi kiện ông C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại tài sản bà không nhất trí, bà đề nghị Toà án buộc ông D trả lại phần diện tích tranh chấp ông Nông Quang T2 đã được cấp giấy chứng nhận cho gia đình ông C quản lý, sử dụng.
  • - Ông Nông Văn T1 trình bày: Ông có biết việc ông Nông Văn D khởi kiện ông Nông Văn C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại tài sản. Ông là chú của ông C và là anh họ của ông Nông Văn D. Nguồn gốc đất hiện nay là do gia đình khai phá sử dụng ổn định trước khi có dự án 661. Ông Nông Văn D có trồng Keo và lấn chiếm sang đất của nhà ông C từ năm 2006, có thỏa thuận thu hoạch xong sẽ trả lại đất. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • - Bà Ma Thị H2 trình bày: Bà có biết việc ông Nông Văn D khởi kiện ông Nông Văn C về việc tranh chấp đất và bồi thường thiệt hại tài sản. Nguồn gốc đất hiện nay là do gia đình khai phá sử dụng ổn định trước khi có dự án 661. Năm 1982 khi bà lấy ông T1 thì cùng ông T1 sử dụng. Năm 2006 ông Nông Văn D có trồng Keo và lấn chiếm sang đất của gia đình bà, có thỏa thuận thu hoạch xong sẽ trả lại đất. Nay ông D khởi kiện ông C bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Với nội dung nêu trên, tại bản án số 03/2024/DSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nông Văn D, yêu cầu Tòa án buộc ông Nông Văn C phải trả lại đất cho ông để ông quản lý sử dụng đối với phần đất đang tranh chấp có diện tích 5.858,4m², trong đó:
    • 3.069,3m² thuộc lô số 07 khoảnh 2 tiểu khu C Bản đồ giao đất, giao rừng xã S đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nông Văn T1;
    • 2.789,1m² thuộc đất nông nghiệp không có số thửa, số tờ bản đồ, chưa được giao cho ai.

    Trên diện tích đất 5.858,4m² gia đình ông Nông Văn C trồng 17 khóm T và 01 ngôi mộ của ông Nông Quang T2 (bố của ông Nông Văn C).

  2. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của ông Nông Văn D đối với ông Nông Văn C, yêu cầu ông C bồi thường số tiền 13.000.000 đồng.
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nông Văn C.

    Buộc ông Nông Văn D, bà Lường Thị Đ, ông Nông Văn Q, ông Nông Văn X trả lại cho ông Nông Văn C, bà Hà Thị V, bà Nông Thị N, bà Nông Thị Y, bà Nông Thị V1, bà Nông Thị C1, bà Nông Thị L(bà V, bà N, bà V1, bà C1, bà L, bà Y đã thỏa thuận ủy quyền cho ông Nông Văn C thay mặt yêu cầu phản tố) phần đất diện tích 6.933,2m² thuộc lô 6 khoảnh 2 tiểu khu C Bản đồ giao đất giao rừng xã S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nông Quang T2.

    Buộc ông Nông Văn D, bà Lường Thị Đ, ông Nông Văn Q, ông Nông Văn X khai thác 1.212 cây Keo trả lại đất cho gia đình ông Nông Văn C quản lý sử dụng. Thời hạn khai thác ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/8/2024 ông D có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà ông D giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Ghi nhận sự tự nguyện của ông C trả giá trị cây theo biên bản định giá cho ông D, sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông D; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Sự vắng mặt của một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nhưng các đương sự cơ bản đã uỷ quyền, những người vắng mặt còn lại có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[2]. Xét kháng cáo của ông D thấy rằng: Ông Nông Văn D được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12/02/1998 đối với các thửa đất số 4, 5, 8 đều là đất trồng rừng. Thửa số 8 có diện tích 65.000m². Địa chỉ các thửa đất đều ở xã S, huyện V. Ông D cho rằng diện tích tranh chấp 5.858,4m² hiện nay ông C đang sử dụng là một phần trong thửa số 08 của ông nên ông Yêu cầu ông C phải trả lại diện tích đất cho ông sử dụng. Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành đo đạc và đối chiếu các loại bản đồ qua các thời kỳ thì thấy rằng diện tích đất tranh chấp giữa ông D và ông C không nằm trong thửa số 08 mà ông D được cấp quyền sử dụng đất năm 1998, mà nằm một phần trong thửa số 06 nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nông Quang T2 (là bố ông C) và nằm một phần trong thửa số 07 của ông T1 (là chú của ông C và là anh họ của ông D) do vậy Toà án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông D đòi ông C phải trả lại diện tích đất tranh chấp cho ông D là có căn cứ, tuy nhiên cấp sơ thẩm lại tuyên buộc ông D và vợ con ông D phải khai thác cây keo của gia đình ông D đã trồng trên diện tích đất tranh chấp ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là làm thiệt hại cho gia đình ông D vì cây trồng tuỳ từng loại phải có thời gian thu hoạch. Tại phiên toà phúc thẩm ông D cho rằng thời hạn khai thác cây Keo của ông đã trồng phải là 02 (hai) năm nữa nhưng ông C không nhất trí mà yêu cầu ông D phải thu hoạch ngay nếu không thì ông sẽ trả cho ông D giá trị số cây theo biên bản định giá để ông C được toàn quyền sở hữu. Như vậy cũng là hợp lý, hợp tình, cần ghi nhận sự tự nguyện này của ông C, sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên.

[3]. Tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích của ông D đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm với lý do cấp sơ thẩm chưa làm rõ được ranh giới thực tế giữa gia đình ông D và gia đình ông C. Việc đo đạc bản đồ của cơ quan nhà nước có sự nhầm lẫn. Hội đồng xét xử thấy rằng. Đất của ông D được cấp quyền sử dụng đất là lô số 08 còn bố ông C được cấp lô số 06, chú của ông C được cấp lô số 07, trong khi diện tích đất tranh chấp lại thuộc lô số 06 là điều hết sức vô lý. Các lô đất có số thửa, có mốc giới rõ ràng vì vậy đề nghị của Luật sư không có căn cứ để huỷ bản án sơ thẩm.

[4]. Tại phiên toà phúc thẩm quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông C trả giá trị cây Keo theo biên bản định giá cho ông D và sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Sửa bản án sơ thẩm số 03/2024/DSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên về cách tuyên.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo của ông Nông Văn D buộc ông Nông Văn C phải trả lại diện tích 5.858,4m² đất.
  2. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của ông Nông Văn D đối với ông Nông Văn C với số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) do ông D không sử dụng được đất.
  3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nông Văn C.

    Buộc ông Nông Văn D, bà Lường Thị Đ, ông Nông Văn Q, ông Nông Văn X trả lại cho ông Nông Văn C, bà Hà Thị V, bà Nông Thị N, bà Nông Thị Y, bà Nông Thị V1, bà Nông Thị C1, bà Nông Thị L phần diện tích đất 6.933,2m² thuộc lô 6 khoảnh 2 tiểu khu C Bản đồ giao đất giao rừng xã S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nông Quang T2 theo các điểm từ điểm 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 27, 28, 14 (có sơ đồ đo đạc kèm theo bản án).

    Ông C được quyền sở hữu 1.212 cây Keo do gia đình ông D trồng và ghi nhận ông C tự nguyện trả tiền cho gia đình ông D giá trị số cây Keo theo biên bản định giá tài sản ngày 28/12/2023 là 17.574.000đ (mười bẩy triệu, năm trăm bẩy mươi tư nghìn đồng). Ông Nông Văn D, bà Lường Thị Đ, ông Nông Văn Q, ông Nông Văn X được quyền sở hữu số tiền 17.574.000đ (mười bẩy triệu, năm trăm bẩy mươi tư nghìn đồng) do ông C trả.

  4. Về chi phí tố tụng: Ông Nông Văn D phải chịu 13.500.000đ (mười ba triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản (ông D đã nộp và chi hết).
  5. Về án phí:
    1. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nông Văn D do là người cao tuổi. Trả lại cho ông Nông Văn D 2.175.000đ (hai triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0006498 ngày 15/11/2023 và Biên lai số 0006595 ngày 10/5/2024.
    2. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nông Văn D do là người cao tuổi. Trả lại cho ông Nông Văn D 300.000đ (ba trăm nghìn đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai theo biên lai số 0006650 ngày 04/9/2024.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện V;
  • - Chi cục THADS huyện V;
  • - UBND huyện V;
  • - UBND xã S;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; Toà dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Quế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/DSPT ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 164/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo của ông Nông Văn D buộc ông Nông Văn C phải trả lại diện tích 5.858,4m2 đất. 2. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản của ông Nông Văn Dũng đối với ông Nông Văn Chí với số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) do ông Dũng không sử dụng được đất. 3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nông Văn Chí. Buộc ông Nông Văn D, bà Lường Thị Đ, ông Nông Văn Q, ông Nông Văn X trả lại cho ông Nông Văn C, bà Hà Thị V, bà Nông Thị N, bà Nông Thị Y, bà Nông Thị V, bà Nông Thị C, bà Nông Thị Lành phần diện tích đất 6.933,2m2 thuộc lô 6 khoảnh 2 tiểu khu 315 Bản đồ giao đất giao rừng xã Sảng Mộc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nông Quang T theo các điểm từ điểm 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 27, 28, 14 (có sơ đồ đo đạc kèm theo bản án). Ông C được quyền sở hữu 1.212 cây Keo do gia đình ông D trồng và ghi nhận ông C tự nguyện trả tiền cho gia đình ông Dũng giá trị số cây Keo theo biên bản định giá tài sản ngày 28/12/2023 là 17.574.000đ (mười bẩy triệu, năm trăm bẩy mươi tư nghìn đồng). Ông Nông Văn D, bà Lường Thị Đ, ông Nông Văn Q, ông Nông Văn X được quyền sở hữu số tiền 17.574.000đ (mười bẩy triệu, năm trăm bẩy mươi tư nghìn đồng) do ông C trả.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger