Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024/HN-ST

Ngày: 11-6-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Lâm Sơn
  2. Bà Phan Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới không tham gia.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 233/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: Ông Cao Minh T, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai nguyên đơn bà Lê Thị B trình bày, bà và ông Cao Minh T tự nguyện tìm hiểu và sống chung vào năm 2006, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng không phụ giúp kinh tế cho vợ con nên vợ chồng thường cãi nhau. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà B yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà B xác định vợ chồng có 02 con chung tên Cao Minh H, sinh ngày 17/01/2007; Cao Huỳnh N, sinh 09/11/2011, hiện con chung đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Cao Minh T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án của bà B và triệu tập hợp lệ để giải quyết, nhưng ông T vắng mặt không lý do, nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Ông Cao Minh T đã được tống đạt để tham gia phiên tòa, nhưng ông vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về hình thức: Bà Lê Thị B khởi kiện xin ly hôn ông Cao Minh T có nơi cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bà Lê Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Cao Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng ông T vắng mặt không lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Lê Thị B, ông Cao Minh T là có căn cứ

[2]- Về nội dung: Bà Lê Thị B và ông Cao Minh T sống chung vào năm 2006, có đăng ký kết hôn theo qui định. Vợ chồng sống đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng không phụ giúp kinh tế cho vợ con nên vợ chồng hay cãi nhau. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2023 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà B xin ly hôn ông T. Hội đồng xét xử xét thấy, bà B và ông T kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của bà B, nhưng ông T không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng nếu sống chung lại cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc bà B xin ly hôn ông T là có cơ sở phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Bích .

[2.1]- Về quan hệ con chung: Bà B xác định vợ chồng có 02 con chung tên Cao Minh H, sinh ngày 17/01/2007; Cao Huỳnh N, sinh 09/11/2011, hiện con chung đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc nuôi con phải được xem xét trên cơ sở bảo đảm sự ổn định và không làm ảnh hưởng tâm lý đối với con chung, hiện nay cháu H, cháu N đang sống ổn định với bà B và có nguyện vọng sống với bà B sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, việc bà B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu này.

Do bà B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[2.2]- Về quan hệ tài sản chung: Bà B không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]- Về nợ chung: Bà B xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[3]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Bích x ly hôn ông Cao Minh T.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 138 ngày 26/12/2011 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp không còn giá trị pháp lý.

Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị B được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Cao Minh H, sinh ngày 17/01/2007; Cao Huỳnh N, sinh 09/11/2011, hiện con chung đang sống với bà B. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà B cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ghi nhận bà B xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà B, ông T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí: Bà Lê Thị B phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0015297 ngày 27/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
 

Nguyễn Công Đức

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Mỹ Hiệp, H. Cao Lãnh, ĐT;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HN-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 164/2024/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger