TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 164/2024/DS-ST
Ngày: 10/9/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Trần Văn Hổ
2. Ông: Trịnh Ngọc Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 160/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: - Ông Lý Quốc Q, sinh năm: 1981.
- - Bà Nguyễn Thùy N, sinh năm: 1982.
- Cùng địa chỉ: Số E, T, phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Loan T, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Số A, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre là người đại diện theo uỷ quyền của bà N, ông Q.
- + Bị đơn: - Ông Võ Ngọc T1, sinh năm 1986.
- - Bà Phùng Thị M, sinh năm 1986.
- Cùng địa chỉ: Số H, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Tại phiên tòa, bà T có mặt. Ông T1, bà M vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 22/4/2024 của nguyên đơn là ông Lý Quốc Q và bà Nguyễn Thùy N, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Loan T trình bày:
Ngày 07/3/2021, ông Q, bà N và ông T1, bà M có ký hợp đồng góp vốn kinh doanh với nội dung ông Q, bà N góp số tiền 300.000.000 đồng cho ông T1, bà M để kinh doanh và thi công nhôm sắt. Thời hạn góp vốn là 03 năm kể từ ngày 07/3/2021 đến ngày 07/3/2024, sau 02 năm ông Q, bà N có quyền xin hoàn lại vốn trước hạn. Hai bên thỏa thuận về lợi tức hàng tháng là 2,5% trên số vốn góp cố định đối với năm đầu tiên và 3,5% từ năm thứ hai trở đi.
Tiền lợi tức sẽ được ông T1, bà M chuyển khoản vào số tài khoản 060004545586 được mở tại Ngân hàng S, chủ tài khoản Nguyễn Thùy N vào ngày 08 đến ngày 15 dương lịch theo chu kỳ 02 tháng một lần.
Để đảm bảo cho việc góp vốn ông T1, bà M có giao cho ông Q, bà N giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 67, tờ bản đồ số 18 tại phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre để làm tin. Từ ngày 07/3/2021 đến ngày 12/9/2023 ông T1, bà M chi trả lợi tức cho ông Q, bà N tổng số tiền là 105.000.000 đồng. Cụ thể:
- + Ngày 07/3/2021 đến 07/3/2022 đã trả là 65.000.000 đồng:
- + Ngày 08/5/2024 trả 15.000.000 đồng;
- + Ngày 13/7/2021 trả 15.000.000 đồng;
- + Ngày 17/11/2021 trả 20.000.000 đồng;
- + Ngày 18/02/2022 trả 15.000.000 đồng.
Theo hợp đồng góp vốn thì ông T1, bà M phải trả tiền lợi tức cho ông Q, bà N như sau: Từ ngày 07/3/2021 đến ngày 07/3/2022 là: (300.000.000 đồng x 2,5%/tháng) x 12 tháng = 90.000.000 đồng.
Như vậy, ông T1 và bà M còn nợ ông Q, bà N lợi tức năm đầu là 90.000.000 – 65.000.000 = 25.000.000 đồng.
- + Ngày 07/3/2022 đến 07/3/2024 đã trả là 40.000.000 đồng:
- + Ngày 28/7/2023 trả 10.000.000 đồng;
- + Ngày 10/4/2023 trả 5.000.000 đồng;
- + Ngày 12/5/2023 trả 5.000.000 đồng;
- + Ngày 12/6/2023 trả 5.000.000 đồng;
- + Ngày 15/7/2023 trả 4.000.000 đồng;
- + Ngày 22/8/2023 trả 4.000.000 đồng;
- + Ngày 12/9/2023 trả 7.000.000 đồng.
Theo hợp đồng góp vốn thì ông T1, bà M phải trả tiền lợi tức cho ông Q, bà N như sau: Từ ngày 07/3/2022 đến ngày 07/3/2024 là: (300.000.000 đồng x 3,5%/tháng) x 24 tháng = 252.000.000 đồng.
Ông T1 và bà M còn nợ ông Q, bà N lợi tức năm thứ 2 và năm thứ 3 là 252.000.000 – 40.000.000 = 212.000.000 đồng.
Như vậy, số tiền lợi tức mà phía ông T1, bà M còn nợ ông Q, bà N 03 là 25.000.000₫ – 212.000.000₫ = 237.000.000 đồng.
Nguyên đơn nhiều lần yêu cầu ông T1, bà M hoàn trả tiền vốn góp và lợi tức nhưng ông Q, bà N không thực hiện. Vì vậy, ông Q, bà N làm đơn khởi kiện yêu cầu xem xét, giải quyết:
- - Buộc ông Võ Ngọc T1, bà Phùng Thị M liên đới hoàn trả cho ông Q và bà N số tiền vốn đã góp là 300.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi 1,66%/tháng tính từ ngày 08/3/2024 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án. Tạm tính từ ngày 08/3/2024 đến ngày 22/4/2024: (300.000.000 đồng x 1,66%/tháng) x 1 tháng 14 ngày = 8.632.000 đồng.
- - Buộc ông Võ Ngọc T1, bà Phùng Thị M liên đới hoàn trả cho ông Q và bà N số tiền lợi tức còn thiếu là 237.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi suất 1,66%/tháng kể từ ngày 08/3/2024 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án. Lãi suất tạm tính 1,66%/tháng tính từ 08/3/2023 đến ngày 22/4/2024 là: (237.000.000 đồng x 1,66%/tháng) x 01 tháng 14 ngày = 6.819.000 đồng.
Tổng cộng vốn và lãi ông Q và bà N yêu cầu ông T1, bà M liên đới trả tạm tính đến ngày 22/4/2024 là: 552.451.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.
* Ngày 31/7/2024 ông Q và bà N làm đơn thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện và tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
- - Ông Q và bà N xin rút một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể: Không yêu cầu ông T1, bà M liên đới hoàn trả cho ông Q và bà N số tiền lợi tức còn thiếu là 237.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi suất 1,66%/tháng kể từ ngày 08/3/2024 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án.
- - Ông Q và bà N chỉ yêu cầu ông T1, bà M có nghĩa vụ liên đới trả cho ông, bà số tiền vốn đã góp là 300.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi 10%/tháng tính từ ngày vi phạm hợp đồng là ngày 12/9/2023 cho đến ngày xét xử là ngày 10/9/2024 (là 11 tháng và 27 ngày).
Hiện, ông Q và bà N đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 319935, số vào sổ cấp GCN: CS04326 thửa đất số 67, tờ bản đồ số 18, diện tích 47,5m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre do bà Phùng Thị M đứng tên quyền sử dụng đất. Nguyên đơn đồng ý trả lại cho ôngThái, bà M giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên khi ôngThái, bà M trả xong tiền nợ cho nguyên đơn.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn là ông Võ Ngọc T1 và bà Phùng Thị M đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vắng mặt không lý do và cũng không có cung cấp chứng cứ gì cho Toà án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn, đã được Toà án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 504, 505, 506, 507 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu trả số tiền lợi tức là 237.000.000 đồng và tiền lãi 6.819.000 đồng.
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hoàn trả số tiền vốn góp, buộc ông T1, bà M liên đới hoàn trả cho ông Q và bà N số tiền vốn đã góp là 300.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi 10%/năm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng là ngày 12/9/2023 đến ngày xét xử ngày 10/9/2024.
- - Tuyên án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe nguyên đơn phát biểu tranh luận. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án đối với bị đơn là ông Võ Ngọc T1, bà Phùng Thị M Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo luật định.
Tòa án đã tiến hành việc cấp tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai cho ông T1, bà M để đưa vụ kiện ra xét xử nhưng ông T1, bà M vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khỏan 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn cho thấy, đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng hợp tác” theo quy định Điều 504 Bộ luật dân sự năm 2015. Do bị đơn có nơi cư trú tại phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
[3] Về nội dung vụ án: Theo lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Vào ngày 07/3/2021, giữa ông Võ Ngọc T1, bà Phùng Thị M với ông Lý Quốc Q, Nguyễn Thùy N có ký kết hợp đồng hợp đồng góp vốn kinh doanh. Theo thoả thuận thì ông Q, bà N góp vốn cho ông T1, bà M số tiền 300.000.000 đồng, mục đích góp vốn là kinh doanh và thi công nhôm sắt. Lợi tức trên số tiền vốn góp hàng tháng tính trên số vốn góp cố định đối với năm đầu tiên là 2,5% và 3,5% từ năm thứ hai trở đi, tiền lợi tức sẽ được chuyển khoản vào số tài khoản 060004545586 của bà Nguyễn Thùy N mở tại Ngân hàng S vào ngày 08 đến ngày 15 theo chu kỳ 02 tháng một lần. Thời hạn hợp đồng là 03 năm.
Từ ngày ký hợp đồng đến ngày 12/9/2023, ông T1, bà M trả số tiền lợi tức cho ông Q, bà N là 105.000.000 đồng. Theo hợp đồng góp vốn thì ông T1, bà M còn nợ ông Q, bà N lợi tức là 237.000.000 đồng. Đến nay, đã hết thời hạn của hợp đồng góp vốn nhưng ông T1, bà M không hoàn trả tiền vốn góp và lợi tức cho ông Q, bà N theo thỏa thuận. Vì vậy, ông Q, bà N yêu cầu ông T1, bà M liên đới hoàn trả cho ông, bà số tiền vốn đã góp là 300.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi 10%/năm tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, là ngày 12/9/2023 đến ngày 10/9/2024 (ngày xét xử).
[4] Trong thời gian giải quyết vụ án, ông Võ Ngọc T1 và bà Phùng Thị M vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay phản đối gì đối với yêu cầu của nguyên đơn nên phải chịu hậu qủa về việc không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Theo đơn thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 31/7/2024 của nguyên đơn và tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút phần yêu cầu bị đơn trả số tiền lợi tức là 237.000.000 đồng và tiền lãi 6.819.000 đồng. Xét yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Xét thấy, Hợp đồng góp vốn kinh doanh giữa ông Q, bà N và ông T1, bà M ký kết ngày 07/3/2021 được lập thành văn văn bản, về nội dung hai bên thoả thuận là phù hợp với Điều 505 của Bộ luật dân sự năm 2015. Trong qúa trình thực hiện hợp đồng đến ngày 12/9/2023 bên nhận vốn góp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán lợi tức cho bên góp vốn và cũng không có thông báo hay yêu cầu gì đối với ông Q, bà N về việc giải quyết phần vốn góp trước thời hạn. Đến nay, theo thời hạn ghi trong hợp đồng từ ngày 07/3/2021 đến ngày 07/3/2024 (03 năm) đã hết mà ông T1, bà M cũng không trả lại tiền vốn và lợi tức cho ông Q, bà N là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận nên ông Q, bà N có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng và yêu cầu ông T1, bà M trả lại số tiền vốn góp là phù hợp.
[7] Qua thu thập chứng cứ tại Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh B xác định vào ngày 08/3/2021 số tài khoản 070099178858 của bà Phùng Thị M đăng ký tại Ngân hàng ngày 12/02/2019 có nhận báo số tiền 300.000.000 đồng được chuyển từ tài khoản 060004545586. Nhận thấy, số tài khoản của người chuyển tiền theo thông tin Ngân hàng cung cấp trùng khớp với số tài khoản của bà Nguyễn Thùy N ghi trong hợp đồng góp vốn ngày 07/3/2021. Tuy, qúa trình sản xuất kinh doanh theo nội dung hợp đồng được thực hiện như thế nào thì nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh nhưng thực tế số tiền 300.000.000 đồng bà M, ông T1 đã nhận của bà N, ông Q thông qua số tài khoản của bà N là có thật. Đến nay, bà M và ông T1 chưa trả lại cho nguyên đơn là đã vi phạm nghĩa thanh toán tiền vốn khi hợp đồng hết hạn. Vì vậy, ông Q, bà N yêu cầu ông T1, bà M trả lại số tiền vốn góp là 300.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 12/9/2023 (ngày vi phạm hợp đồng) đến ngày xét xử là ngày 10/9/2024 theo mức lãi suất 10%/năm là có căn cứ chấp nhận.
Cụ thể được tính như sau: Số tiền vốn là 300.000.000 đồng được tính lãi từ ngày 12/9/2023 đến ngày 10/9/2024 là 11 tháng và 27 ngày, lãi suất 0,83%/tháng là 29.631.000 đồng. Tổng cộng chung số tiền vốn và tiền lãi buộc ông T1, bà M có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Q, bà N là: 329.631.000 đồng.
[8] Hiện, ông Q và bà N đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 319935, số vào sổ cấp GCN: CS 04326 thửa đất số 67, tờ bản đồ số 18, diện tích 47,5m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre do bà Phùng Thị M đứng tên quyền sử dụng đất. Ông Q và bà N đồng ý trả lại cho ông T1, bà M khi trả xong tiền nợ. Xét thấy, mặc dù bị đơn không có yêu cầu gì nhưng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nên ghi nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- - Ông T1, bà M có nghĩa vụ liên đới chịu như sau: 329.631.000 đồng x 5% = tính tròn là 16.481.000 đồng.
- - Ông Q, bà N được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.049.000 đồng theo biên lai số 0004427 ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
[9] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 504, 505, 506, 507, 512 Điều 288 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39, Điều 96, khoản 2 Điều 227, khỏan 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lý Quốc Q và bà Nguyễn Thùy N về việc yêu cầu bị đơn là ông Võ Ngọc T1 và bà Phùng Thị M hoàn trả số tiền vốn góp trong văn bản ghi “Hợp đồng góp vốn kinh doanh ngày 07/3/2021".
Buộc ông Võ Ngọc T1 và bà Phùng Thị M có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lý Quốc Q và bà Nguyễn Thùy N số tiền vốn đã góp là 300.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 12/9/2023 đến ngày xét xử (ngày 10/9/2024) là: 29.631.000 đồng. Tổng cộng chung là: 329.631.000 đồng (ba trăm hai mươi chín triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, khi có đơn yêu cầu thi hành án của ông Q, bà N nếu ông T1, bà M chưa trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lý Quốc Q và bà Nguyễn Thùy N về việc yêu cầu ông Võ Ngọc T1 và bà Phùng Thị M liên đới trả số tiền lợi tức còn thiếu là 237.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi suất 1,66%/tháng. Do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện.
- Ghi nhận ông Lý Quốc Q và bà Nguyễn Thùy N có nghĩa vụ trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 319935, số vào sổ cấp GCN: CS 04326 của thửa đất số 67, tờ bản đồ số 18, diện tích 47,5m² tại phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre do bà Phùng Thị M đứng tên quyền sử dụng đất cho ông Võ Ngọc T1 và bà Phùng Thị M khi trả xong số tiền nợ nêu trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- - Ông Võ Ngọc T1 và bà Phùng Thị M có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền là 16.481.000 đồng (Mười sáu triệu bốn trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
- - Ông Lý Quốc Q và bà Nguyễn Thùy N được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.049.000 đồng (Mười ba triệu không trăm bốn mươi chín nghìn đồng) theo biên lai số 0004427 ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo, các đương sự vắng mặt tại toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thuý Hằng |
Bản án số 164/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng hợp tác
- Số bản án: 164/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp vốn giữa Lý Quốc Q và Võ Ngọc T
