|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 164/2024/HS-ST Ngày 10-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải
Bà Ngô Thị Thúy Hảo
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Q- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 75/2024/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Anh T, sinh năm 2001 tại Nam Định; Hộ khẩu thường trú: 5 T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 (sinh năm 1976) và bà Trần Thị T2 (sinh năm 1981); vợ là Huỳnh Bạch K, sinh năm 2002, có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án: Ngày 10-6-2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 150.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án Hình sự số 162/2022/HS-ST ngày 10-6-2022.
Tiền sự: Không;
Bị bắt từ ngày 26-11-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).
Bị hại: Chị Đỗ Thị Bích H, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ G, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Quốc T3, sinh năm 1985; địa chỉ: B N, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Anh T, chị Đỗ Thị Bích H (Sinh năm 1998) và anh Diệp Văn D (Sinh năm 1992) là nhân viên của Câu lạc bộ V, địa chỉ: A T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Khoảng tháng 8/2023, T, chị H và anh D cùng thuê Căn hộ 6M, Chung cư S, địa chỉ: số B L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để ở. Trong quá trình sinh sống, do thiếu tiền tiêu sài cá nhân nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, biển số 72AD-062319 của chị H. Thực hiện ý định này, khoảng tháng 10/2023, lợi dụng lúc chị H ngủ, T mở ví của chị H chụp lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 72 000196 do Công an thành phố B cấp ngày 13/10/2023. Sau đó, T lên mạng xã hội Facebook liên hệ với một đối tượng (không rõ lai lịch) thỏa thuận làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô của chị H với giá là 200.000 đồng, phương thức thanh toán “Ship Cod” (sau khi bên mua hàng nhận hàng sẽ thanh toán tiền cho bên bán thông qua bên dịch vụ vận chuyển). Đến khoảng cuối tháng 10/2023, T nhận được Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả và thanh toán số tiền 200.000 đồng cho người giao hàng. Sau khi có được giấy chứng nhận xe mô tô giả, T tiếp tục lợi dụng lúc chị H ngủ và đánh tráo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô thật của chị H để trong ví. Sau đó, T 03 lần hỏi mượn chiếc xe mô tô của chị H để đi lại xử lý công việc nhưng lại mang đi cầm cố như sau:
Lần thứ nhất: Vào ngày 29/10/2023, T hỏi mượn xe mô tô của chị H và được chị H đồng ý. Sau đó, T chạy xe mô tô ra tiệm C1, địa chỉ: B N, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gặp anh Phan Quang T4 (sinh năm: 1985, chủ tiệm cầm đồ) cầm cố chiếc xe với giá 23.000.000 đồng để tiêu sài cá nhân. Tuy nhiên, do T lo được tiền nên đến chiều cùng ngày, T đến tiệm cầm đồ chuộc lại chiếc xe mô tô mang về trả cho chị H.
Lần thứ hai: Vào sáng ngày 30/10/2023, T mượn xe mô tô của chị H và mang đến tiệm cầm đồ Trường P cầm cố với giá 23.000.000 đồng và đến chiều cùng ngày T đến chuộc lại chiếc xe mang về trả cho chị H.
Lần thứ ba: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/10/2023, T hỏi mượn xe mô tô của chị H để đi công việc khoảng 30 phút sẽ trả lại và được chị H đồng ý. Sau khi mượn được xe, T mang đến tiệm C1 cầm cố với giá 28.000.000 đồng. Sau đó, T bỏ trốn lên Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến này 01/11/2023, T nhắn tin cho chị H qua mạng xã hội Facebook nói mình đã mang xe của chị H đi cầm cố và nhờ chị H chuyển số tiền 9.000.000 đồng cho T để chuộc xe nhưng chị H không đồng ý và yêu cầu T cho nói chuyện trực tiếp với chủ tiệm cầm đồ. Sau đó, T lập một tài khoản cá nhân trên mạng xã hội Z có tên là “Quang T5” và dùng tài khoản này nhắn tin cho chị H tự xưng là chủ tiệm cầm đồ, yêu cầu chị H chuyển số tiền 9.000.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng C2 mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A), chủ tài khoản là Phạm Đức P1 (sinh năm 2000) để chuộc xe. Tin là thật, ngày 08/11/2023, chị H chuyển số tiền 9.000.000 đồng vào tài khoản của anh P1, T dùng số tiền này để trả nợ cho anh P1. Đến ngày 26/11/2023, T đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Kết luận định giá tài sản số 180/KL ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự - UBND thành phố V kết luận đối với chiếc xe mô tô do Lê Anh T chiếm đoạt (BL 25 - 26): “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda (loại xe Vision), biển số 72AD-06219, số khung RLHJK0354PY055813, số máy JK03E-8179993, xe đăng ký lần đầu ngày 13/10/2023 trị giá 33.500.000 đồng”.
Tại Kết luận giám định số 05/KL ngày 24/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận đối với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô do Lê Anh T làm giả (BL 29):
- Chữ ký mang tên Huỳnh Vũ T trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký mang tên Huỳnh Vũ T trên mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một người ký ra.
- Hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 không phải do con dấu có hình dấu mẫu trên mẫu so sánh ký hiệu M đóng ra.
- Chữ ký mang tên Huỳnh Vũ T trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký mang tên Huỳnh Vũ T6 trên mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một người ký ra.
- Hình dấu trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với hình dấu trên mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một con dấu đóng ra”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Anh T khai nhận hành vi làm giả Giấy chứng nhận xe mô tô để chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị H, công nhận kết quả giám định, định giá. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai người làm chứng, người có liên quan, bị hại; phù hợp với vật chứng thu giữ; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án (BL 64 - 77).
Trong quá trình điều tra, truy tố vụ án, Lê Anh T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội, ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra. Lê Anh T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Ngoài ra, tại lần thứ 3 vào ngày 30/10/2023, T mượn xe mô tô của chị H sau đó mang đi cầm cố với giá 28.000.000 đồng và ngày 08/11/2023, T giả danh chủ tiệm cầm đồ chiếm đoạt của chị H 9.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự nên T phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 02 lần trở lên.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng:
- - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Vision, biển số 72AD-06219 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 72 000196 do Công an thành phố B cấp ngày 13/10/2023, Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại là chị Đỗ Thị Bích H;
- - 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 72 000196 do Công an tỉnh B cấp ngày 13/10/2023 bị làm giả do Cơ quan Công an thu giữ chuyển theo hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự trong vụ án:
- - Chị Đỗ Thị Bích H yêu cầu Lê Anh T trả lại số tiền 9.000.000 đồng đã chiếm đoạt.
- - Đối với số tiền 28.000.000 đồng Lê Anh T cầm cố chiếc xe mô tô, ông Phan Quang T4 - Chủ tiệm cầm đồ yêu cầu bị cáo phải trả lại cho ông T4.
Tại Cáo trạng số 76/CT-VKSVT ngày 20-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố Lê Anh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về Trách nhiệm Hình sự:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 341; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành: 33 (Ba mươi ba) tháng tù đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.
Về Trách nhiệm Dân sự:
Buộc bị cáo T có trách nhiệm thanh toán cho:
- - Bị hại chị Đỗ Thị Bích H số tiền 9.000.000₫ (Chín triệu đồng).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quốc T3 số tiền 28.000.000₫ (Hai mươi tám triệu đồng).
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng tháng 10 năm 2023, thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo liên hệ với 01 đối tượng (không rõ lai lịch) để làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 72 000196 do Công an thành phố B cấp ngày 13/10/2023 đối với xe mô tô (nhãn hiệu Honda, số loại Vision, biển số 72AD-062.19, do chị Đỗ Thị Bích H là chủ sở hữu) với giá 200.000 đồng. Sau khi nhận được Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả, bị cáo đánh tráo với Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô thật của chị H. Sau đó, khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/10/2023, bị cáo vờ hỏi mượn xe mô tô của chị H rồi mang đến tiệm cầm đồ Trường P cầm cố với giá 28.000.000 đồng. Tiếp đó, bị cáo giả danh chủ tiệm cầm đồ yêu cầu chị H chuyển số tiền 9.000.000 đồng để chuộc xe. Ngày 08/11/2023, chị H chuyển tiền, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền này và sử dụng để trả nợ cho anh Phạm Đức P1. Căn cứ kết quả định giá xác định chiếc xe mô tô bị cáo chiếm đoạt của chị H trị giá 33.500.000 đồng. Như vậy, tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị H là 42.500.000 đồng.
Như vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu.
[3] Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được Pháp luật bảo vệ. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm Hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về Trách nhiệm Dân sự:
Bị hại chị Đỗ Thị Bích H yêu cầu bị cáo trả cho chị số tiền 9.000.000 đồng; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Quang T4 yêu cầu bị cáo trả số tiền bị cáo đã cầm cố chiếc xe mô tô là 28.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý trả cho chị H số tiền 9.000.000 đồng và ông T4 28.000.000 đồng. Xét thấy, việc bị cáo đồng ý trả cho ông T4 và chị H như vậy là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo có trách nhiệm trả cho chị H 9.000.000 đồng, trả cho ông T4 28.000.000 đồng.
[5] Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 02 lần chiếm đoạt tài sản của bị hại và đã bị từng bị kết án nhưng chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Trách nhiệm Hình sự:
Tuyên bố: bị cáo Lê Anh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g, h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Anh T: 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 341; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Anh T: 09 (Chín) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự về tổng hợp hình phạt: Hình phạt chung buộc bị cáo Lê Anh T phải chấp hành là 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 11 năm 2023.
2. Về Trách nhiệm Dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và 586 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo T có trách nhiệm thanh toán cho:
- - Bị hại chị Đỗ Thị Bích H số tiền 9.000.000₫ (Chín triệu đồng).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quốc T3 số tiền 28.000.000₫ (Hai mươi tám triệu đồng).
3. Về Án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Án phí Hình sự: Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
Án phí Dân sự: Bị cáo phải nộp 1.850.000₫ (Một triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (đối với người có mặt tại phiên tòa); tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai (đối với người vắng mặt tại phiên tòa) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh |
Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 164/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Anh t bị xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". 09 (Chín) tháng tù về tội "Sửa dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
