Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN GIÁO

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024/HS-ST

Ngày 05/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quang Hùng và ông Cà Văn Ngọc.

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 163/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Q; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 15/01/1992; tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 10; con ông Lò Văn M, đã chết; con bà Lò Thị D, sinh năm 1958; bị cáo đã từng có vợ là chị Cao Thị T, sinh năm 2001 (Đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa từng bị kết án và chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/4/2024 đến ngày 03/5/2024, tạm giam từ ngày 03/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo có: Bà Hà Thị T1 - Trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt. Người có nghĩa vụ liên quan:

Anh Lò Văn T2; sinh năm 1997; trú tại: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.

Anh Lò Văn N; sinh năm 1997; trú tại: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 18/4/2024 Lò Văn Q một mình đi bộ từ nhà ở bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên sang bản Sáng, xã Q tìm mua ma túy sử dụng và bán kiếm lời do Q nghiện chất ma túy và ham lợi nhuận từ việc bán trái phép chất ma

túy. Khi ra đến đường Quốc lộ 6 thuộc bản S, xã Q, Q gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ. Qua trao đổi, Q mua được của người này 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng với giá 300.000 đồng. Q cầm gói Heroine trong lòng bàn tay trái đi bộ về nhà. Về đến nhà, Q cấu một ít H ra sử dụng, sau đó chia nhỏ thành 03 gói, trong đó 02 gói được gói bằng nilon màu trắng có sẵn, 01 gói to hơn được gói bằng nilon màu hồng cũ. Trong các ngày 18/4/2024 và ngày 21/4/2024 Q đã 02 lần bán trái phép chất ma túy, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 12 giờ ngày 18/4/2024, Lò Văn Q đang đứng một mình ở cổng bản Sái Trong, xã Q, huyện T thì Lò Văn T2, sinh năm 1997, trú tại: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên đi tới. Qua trao đổi, Q bán 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng với giá 100.000 đồng cho T2. Số Heroine này T2 đã sử dụng hết.

Lần 2: Khoảng 12 giờ ngày 21/4/2024, Lò Văn Q một mình đi bộ từ nhà ra cổng bản Sái Trong, xã Q, huyện T, gặp Lò Văn T2 và Lò Văn N, sinh năm 1997, trú tại bản Sái Trong, xã Q đang đứng ở cổng bản. Lò Văn T2 hỏi mua 100.000 đồng Heroine của Q. Q đồng ý, nhận 100.000 đồng gồm 02 tờ tiền polime mệnh giá mỗi tờ là 50.000 đồng, sau đó về nhà lấy 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng ra đưa cho T2. Q không biết số tiền 100.000 đồng này do T2 và N góp mỗi người 50.000 đồng mua chung ma túy sử dụng. Số Heroine này T2 và N đã cùng nhau sử dụng hết ngay sau đó.

Số tiền 200.000 đồng 02 lần bán ma túy, Q đã mua thức ăn hết.

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 24/4/2024, tại nhà Lò Văn Q ở bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, tổ công tác Công an xã Q, huyện T phát hiện, bắt quả tang thu giữ dưới đệm giường ngủ của Lò Văn Q 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa ma túy loại Heroine, Q cất giấu để sử dụng và bán.

Tại Biên bản làm việc mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 24/4/2024, có sự chứng kiến của bị cáo đã xác định khối lượng cụ thể như sau: 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,16 gam; gửi toàn bộ làm mẫu gửi giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 507/QĐ-ĐCSHS-KTMT, ngày 25/4/2024. Tại bản Kết luận giám định số: 763/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn Q có khối lượng 0,16 gam là chất Ma túy: Loại Heroin (H). Hoàn lại đối tượng giám định 0,08 gam.

Tại Cáo trạng số: 121/CT-VKSTG ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 07 năm 01 tháng đến 07 năm 04 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm

b, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng gồm 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh Đ các mép đều được dán kín bên trong phong bì có mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng là 0,08 gam Heroine và 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong là vật chứng còn lại vụ Lò Văn Q gồm: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng để tiêu hủy; truy thu 200.000đ do bị cáo bán ma túy sung vào quỹ Nhà nước. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí; nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo về tội danh và đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s, điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, đề nghị xem xét về hoàn cảnh gia đình, nhân thân của bị cáo đề nghị HĐXX tuyên mức hình phạt thấp nhất có thể đối với bị cáo. Đề nghị không phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Lời khai của Lò Văn T2: Vào khoảng 12 giờ ngày 18/4/2024, Lò Văn T2 đã mua của Lò Văn Q 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng với giá 100.000đ; số ma túy này T2 đã sử dụng hết. Vào khoảng 12 giờ ngày 21/4/2024, Lò Văn T2 và Lò Văn N đã góp nhau mỗi người 50.000đ đã mua của Lò Văn Q 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng với giá 100.000đ; quá trình trao đổi mua bán do T2 là người trao đổi với Q, T2 không không nói với Q, T2 và N góp tiền mua ma túy; số ma túy T2 và N đã sử dụng hết.

Lời khai của Lò Văn N: Vào khoảng 12 giờ ngày 21/4/2024, Lò Văn T2 và Lò Văn N đã góp nhau mỗi người 50.000đ đã mua của Lò Văn Q 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000đ; quá trình trao đổi mua bán do T2 là người trao đổi với Q, Q không biết T2 và N góp tiền; số ma túy này T2 và N đã sử dụng hết.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Biên bản niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng, Kết luận giám định; Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị cáo, bản tường trình của Lò Văn T2, Lò Văn N và các chứng cứ khác; do đó có đủ cơ sở kết luận: Nhằm mục đích sử dụng và bán lẻ kiếm lời, bị cáo đã có hành vi mua ma túy của một

người đàn ông không rõ lai lịch với giá 300.000đ. Số ma túy mua được bị cáo cấu một ít sử dụng, số còn lại bị cáo gói lại thành 03 phần dùng túi nilon màu trắng, màu hồng gói thành 03 gói. Ngày 18/4/2024 bị cáo đã trực tiếp bán cho T2 01 gói Heroine với giá 100.000đ và ngày 21/4/2024 bị cáo đã trực tiếp bán cho T2 100.000đ được 01 gói Heroine (số tiền 100.000₫ do T2 và N góp tiền mỗi người 50.000đ, tuy nhiên Q không biết trong số tiền đó có tiền của N). Ngày 24/4/2024, tổ công tác Công an xã Q, huyện T phát hiện, bắt quả tang thu giữ dưới đệm giường ngủ của Lò Văn Q 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa ma túy loại Heroine có khối lượng 0,16 gam, Q cất giấu để sử dụng và bán. Hành vi 02 lần bán trái phép ma túy cho T2 và tàng trữ 0,16 gam Heroine để nhằm mục đích bán của bị cáo đã phạm vào tội: Mua bán trái phép chất ma túy Điều 251 Bộ luật hình sự. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...b) Phạm tội 02 lần trở lên;”

Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội, cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội hai lần bán ma túy cho Lò Văn T2; bị cáo có bố đẻ là Lò Văn M được Nhà nước tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo và người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về tội danh, hình phạt chính, không phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ; nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về vật chứng:

Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau:

- Đối với vật chứng hoàn lại sau giám định của vụ Lò Văn Q có khối lượng là 0,08 gam Heroine, do đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy.

Truy thu 200.000đ là số tiền thu lời bất chính có được do bị cáo bán ma túy 02 lần cho T2 để sung quỹ Nhà nước.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí; nên bị cáo đủ điều kiện được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo quá trình trao đổi mua bán không rõ lai lịch, nên không có cơ sở xác minh làm rõ; do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.

Đối với Lò Văn T2 và Lò Văn Nghĩa là những người đã mua ma túy của Lò Văn Q để sử dụng, số ma túy T2 và N mua đã sử dụng hết, ngày 20/7/2024 Phó trưởng Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 và N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt “Cảnh cáo”. Việc ban hành quyết định xử phạt là đúng với quy định của pháp luật.[9] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s, điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn Q 07 (Bảy) năm 01 (Một) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.

3. Vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; truy thu số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) bị cáo bán ma túy để sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong bằng phong bì công văn của Phòng K - Công an tỉnh Đ các mép đều được dán kín bên trong phong bì có mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng là 0,08 gam Heroine và 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong là vật chứng còn lại vụ Lò Văn Q gồm: 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.

(Đặc điểm vật chứng được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 05/9/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Phòng HC, Sở tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tuần Giáo;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Tuần Giáo
  • - Bộ phận HSNV Công an huyện Tuần Giáo;
  • - VKSND huyện Tuần Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - THAHS + Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lương Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 164/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger