Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024/HS-ST

Ngày: 05/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Kiên.

Bà Lò Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 163/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXXST-HS ngày 21tháng 6 năm 2024 đối với Bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn T; sinh năm: 1976, tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn M; sinh năm 1946; Con bà: Lò Thị L; sinh năm 1952; Vợ là Lò Thị H; sinh năm 1980. Bị cáo có 02 người con; con lớn sinh năm 1998; con nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/12/2006 Bị cáo bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 30/2006/HSST. Đến ngày 28/4/2012 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống; Ngày 15/11/2016 Bị cáo bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 24/2016/HSST. Đến ngày 05/11/2018 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, các bản án trên đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ, ngày 10/4/2024, Bị cáo đi bộ từ nhà tại bản H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, đi đến khu vực đường vào bản N, xã T, huyện Đ mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi, bị cáo mang theo số tiền 150.000 đồng, Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) Bị cáo hỏi người đàn ông đó “có mua H1 không bán cho 150.000 đồng?”, người đàn ông đó trả lời :Có, đưa tiền đây”, sau đó Bị cáo đưa số tiền 150.000 đồng cho người đàn ông đó. Người đàn ông cầm tiền của Bị cáo và đưa lại cho Bị cáo 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu xanh, miệng gói được hơ lửa hàn kín. Bị cáo cầm gói H1 và kiểm tra đúng là H1 nên đồng ý mua. Sau đó Bị cáo cất gói H1 vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Khi về đến nhà khoảng 08 giờ cùng ngày thì có một người đàn ông dân tộc Kinh khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) hỏi Bị cáo “Anh có Heroine không bán cho em 100.000 đồng?”, Bị cáo trả lời :Có, đưa tiền đây”, người đàn ông đó đưa cho Bị cáo 100.000 đồng, Bị cáo cất số tiền đó vào tùi quần bên phải đang mặc rồi lấy gói Heroine cất ở túi quần bên trái đang mặc và dùng tay cấu một ít Heroine ra, nhặt mảnh giấy màu trắng ở nhà gói lại đưa cho người đàn ông đó, người đàn ông cầm gói H1 đi ra khỏi nhà và đi đâu thì Bị cáo không biết. Gói Heroine còn lại Bị cáo gói lại như cũ và cất giấu ở túi quần bên trái đang mặc đi từ trong nhà ra sân thì bị tổ công tác công an huyện Đ và công an xã T, huyện Đ giữ Bị cáo lại và kiểm tra. Qua kiểm tra tổ công tác phát hiện thu giữ tại túi quần bên trái Bị cáo đang mặc 01 gói Heroine bên ngoài bằng nilon màu xanh, miệng gói được hơ lửa hàn kín, bên trong là các cục bột Heroine, thu giữ tại túi quần bên phải Bị cáo đang mặc có 100.000 đồng gồm 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng. Bị cáo khai nhận số cục bột trắng đó là Heroine của Bị cáo cất giấu để sử dụng và bán lẻ kiếm lời, còn số tiền 100.000 đồng là do Bị cáo bán ma túy mà có. Tổ công tác mời người chứng kiến đến chứng kiến vụ việc rồi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với Bị cáo, qua khám xét không phát hiện, thu giữ được gì. Sau khi hoàn tất thủ tục, tổ công tác áp giải Bị cáo cùng toàn bộ hồ sơ vật chứng vụ án về Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để tiếp tục điều tra làm rõ.

Ngày 10/4/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Lò Văn T như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,47 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 683/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Lò Văn T giám định là chất ma túy: loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,41 gam.

Ngày 11/4/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên ban hành Quyết định trưng cầu giám định số: 542/QĐ, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Đ giám định 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có mã số cụ thể: PB22508563 và AU23102721 thu giữ của Lò Văn T.

Tại bản kết luận giám định số: 681/KL-KTHS ngày 18/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng có mã số cụ thể: PB22508563 và AU23102721 là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số: 105/CT-VKSHĐB ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Đề nghị xử phạt Bị cáo: Từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 08 tháng về tội " Mua bán trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy: 0,41 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu xanh dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng.

Do Cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được số tiền 100.000 đồng do Bị cáo bán ma túy mà có. Vì vậy đề nghị HĐXX trả lại số tiền 100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 08 giờ 45 phút ngày 10/4/2024 tại nhà của Bị cáo tại bản H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Lò Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,47 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của Bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, đi học đến lớp 02/12 sau đó nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1998 Bị cáo kết hôn với chị Lò Thị H và có 02 người con chung, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 12/12/2006 Bị cáo bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 30/2006/HSST. Đến ngày 28/4/2012 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống; Ngày 15/11/2016 Bị cáo bị TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 24/2016/HSST. Đến ngày 05/11/2018 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, các bản án trên đã được xóa án tích nhưng Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bố đẻ bị cáo là ông Lò Văn M được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngày 10/4/2024 Bị cáo bị Công an huyện Đ và công an xã T, huyện Đ bắt quả tang về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.

Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo làm ruộng, thu nhập không ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS thì vật chứng cần được xử lý như sau:

- Đối với 0,41 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 mảnh nilon màu xanh dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 100.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo cần trả lại cho Bị cáo.

[6] Các vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra Bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc T1 khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ ở đâu). Do Bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với người thanh niên dân tộc Kinh đã mua ma tuý của Bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Bị cáo khai, trước khi bị bắt, Bị cáo đã bán ma túy cho người thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu với giá 100.000 đồng. Tuy nhiên do không xác định được lai lịch của người thanh niên trên nên không đủ cơ sở chứng minh, đấu tranh làm rõ Bị cáo đã bán ma túy và thu tiền. Cơ quan điều tra Công an huyện Đ và Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí:

Tại phiên tòa Bị cáo xin HĐXX xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo vì gia đình Bị cáo thuộc hộ nghèo tại địa phương. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: " Mua bán trái phép chất ma túy".

    Xử phạt Bị cáo: 02 năm 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (10/4/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

    * Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,41 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 mảnh nilon màu xanh dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng.

    * Trả lại cho Bị cáo số tiền: 100.000 đồng có mã số cụ thể là: PB22508563 và AU23102721.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/7/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND H. Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS HDB;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV C.an HĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 164/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 02 năm 08 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger