|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 164/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01 - 08 - 2024 V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Phan Minh Trâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Tạ Công Minh;
Ông Nguyễn Minh Toàn.
Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Huệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa : Bà Lương Thị Trà My – kiểm sát viên.
Vào ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 224/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐHPT-DS ngày 12 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị H, sinh năm 1978.
HKTT: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang
Chổ ở hiện nay: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1978.
HKTT: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang
(Chị H có mặt; anh Phạm Văn N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và bản tự khai cùng ngày 08 tháng 04 năm 2024 và trong quá trình xét xử nguyên đơn là chị Huỳnh Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Văn N chung sống với nhau vào năm 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn, do anh chị bận làm ăn. Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng với nhau về quan điểm sống. Năm 2021 chị bỏ về nhà cha mẹ ruột ở xã N, từ đó cả hai sống ly thân cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên yêu cầu Toà án cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn N.
- Về con chung: Có hai con chung tên Phạm Thị Bích T - sinh ngày 25/5/2002 và Phạm Tấn T1 - sinh ngày 03/03/2011. Khi ly hôn chị đồng ý giao con chung là Phạm Tấn T1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, vì từ khi ly thân đến nay cháu T1 sống với anh N, chị không cấp dưỡng nuôi con do hiện nay kinh tế chị khó khăn. Đối với Phạm Thị Bích T đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn là anh Phạm Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Nhận thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Huỳnh Thị H với anh Phạm Văn N là có cơ sở, tuy nhiên do cả hai chung sống với nhau từ năm 2000 đến nay vẫn không có đăng ký kết hôn, nên đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị H và anh N là vợ chồng; Về con chung, giao con chung tên Phạm Tấn T1 - sinh ngày 03/03/2011cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng và cũng theo nguyện vọng của cháu. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh N không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung : Không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Phạm Văn N đã được tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để tham dự phiên tòa. Hội đồng xét xử, quyết định xét xử vắng mặt anh N theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị H và anh Phạm Văn N, chung sống với nhau vào 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn. Về mâu thuẫn vợ chồng do anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống, cả hai đã sống ly thân từ 2021. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh N. Đối với anh Phạm Văn N đã được Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng đúng theo quy định pháp luật, nhưng anh không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng của anh chị là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, do anh chị sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 14, nên cần không công nhận anh chị là vợ chồng.
[3] Về con chung: Có hai con chung tên Phạm Thị Bích T - sinh ngày 25/5/2002 và Phạm Tấn T1 - sinh ngày 03/03/2011. Khi ly hôn chị H đồng ý giao con chung là Phạm Tấn T1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng. Nhận thấy từ khi anh chị sống ly thân đến nay anh N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu T1. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu T1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng và cũng theo nguyện vọng của cháu. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh N không yêu cầu.
Đối với Phạm Thị Bích T đã trưởng thành và tự nuôi sống bản thân được nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Huỳnh Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, được qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xét phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Huỳnh Thị H.
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Huỳnh Thị H với Phạm Văn N.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Tấn T1 - sinh ngày 03/03/2011 cho anh Phạm Văn N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Huỳnh Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh N không có yêu cầu.
Chị H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Huỳnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011200 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Như vậy chị H đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Phan Minh Trâm |
Bản án số 164/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 164/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giao con chung cho anh Phạm Văn N trực tiếp nuôi dưỡng
