|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:164/2024/DS-ST
Ngày 30 tháng 9 năm 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Nhớ
Ông Lê Trường Hận
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 476/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á; Địa chỉ trụ sở chính: Số D, N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình L – Phó Giám đốc Phòng quản lý nợ Ngân hàng TMCP Á. Ông L ủy quyền lại cho ông Lâm Trấn T – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1958; Địa chỉ: Số F, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Anh Lê Trọng N, sinh năm 1989
Anh Lê Trọng Â, sinh năm 1991
Chị Phạm Thị M, sinh năm 1993
Chị Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1992
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Ông T, bà L1, anh  có mặt, anh N, chị M, chị Y vắng mặt)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á, đại diện theo ủy quyền ông Lâm Trấn T trình bày:
Ngày 19/10/2021, Ngân hàng TMCP Á – chi nhánh B (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) và ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị L1 ký kết Hợp đồng tín dụng số BLLCN.3147.191021 ngày 19/10/2021 và Phụ lục hợp đồng số BLLCN.3147.191021-PL-01 ngày 19/10/2021; qua đó, Ngân hàng cho ông C, bà L1 vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn kinh doanh mua bán thức ăn tôm; lãi suất cho vay được ghi trong khế ước nhận nợ, lãi suất được điều chỉnh định kỳ; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; Ngân hàng đã giải ngân xong và ông C đã ký khế ước nhận nợ số [...] ngày 15/10/2022, số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 11,00%/năm cố định trong vòng 06 tháng, và được điều chỉnh 03 tháng/lần cộng (+) 3%/năm; lãi phạt chậm trả 10%/năm; Khế ước nhận nợ số [...] ngày 18/10/2022 số tiền 150.000.000 đồng, lãi suất 13,00%/năm cố định trong vòng 03 tháng, và được điều chỉnh 03 tháng/lần cộng (+) 3,00%/năm; lãi phạt chậm trả 10%/năm. Ngày 21/10/2021, Ngân hàng TMCP Á – chi nhánh B cũng cấp tín dụng cho ông Lê Văn C thông qua Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số thẻ 3567950000886049, loại thẻ Job Gold EMV số tiền 30.000.000 đồng, lãi trong hạn 25%/năm. Ông C đã phát sinh thanh toán trên thẻ tín dụng được cấp số tiền 30.000.000 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay, vợ chồng bà L1 đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất BLI.BĐCN.02.0607016 ngày 19/10/2021, qua đó thế chấp tài sản là các quyền sử dụng đất:
- - Diện tích đất 185,30m² đất ở nông thôn thuộc thửa số 27, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Ủy ban nhân dân thị xã B (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047330 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008;
- - Diện tích đất 4.700m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa số 48, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Ủy ban nhân dân thị xã B (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047331 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008;
- - Diện tích đất 2.970m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa số 51, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Ủy ban nhân dân thị xã B (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047332 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008;
- - Diện tích đất 5.417,30m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa số 464, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Ủy ban nhân dân thị xã B (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 926878 cho ông Lê Văn C vào ngày 30/3/2011;
- - Diện tích đất 2.641m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa số 23, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được Ủy ban nhân dân thị xã B (Nay là Ủy ban nhân dân thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047329 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008.
Quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng bà L1 đã không thực hiện trả nợ gốc, lãi vay theo đúng thoả thuận. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc nhưng bà L1, ông C vẫn không thực hiện đúng cam kết trả nợ. Kể từ ngày 01/4/2023 ông C và bà L1 đã không trả nợ đúng hạn, phát sinh nợ quá hạn, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ vay sang nợ quá hạn từ ngày
2
16/4/2023. Sau khi khởi kiện đại diện ngân hàng mới biết được việc ông Lê Văn C đã chết (năm 2023). Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà L1 và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 số tiền là 444.539.647 đồng (trong đó nợ gốc của khoản tiền vay 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 8.755.479. đồng, lãi quá hạn 82.054.109; phạt chậm trả 5.121.581 đồng và nợ gốc của thẻ tín dụng là 32.533.353 đồng, lãi quá hạn là 16.075.125 đồng) và yêu cầu bà L1 cùng những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông C phải trả tiền lãi, phạt chậm trả tính kể từ ngày tiếp theo theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng. Trường hợp bà L1, những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông C không trả được nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để ngân hàng thu hồi nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà L1 thừa nhận bà và ông Lê Văn C có vay tiền tại Ngân hàng TMCP Á số tiền gốc là 300.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh, lãi suất theo từng khế ước nhận nợ, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Các bên có ký Hợp đồng tín dụng số BLLCN.3147.191021 ngày 19/10/2021. Bà và ông C đã được Ngân hàng giải ngân đủ số tiền vay. Bà L1 cũng biết việc ông C có ký hợp đồng vay thẻ tín dụng, hạn mức thẻ 30.000.000 đồng. Khi vay tiền của Ngân hàng thì bà và ông C có ký hợp đồng thế chấp tài sản số BLI.BĐCN.02.060.716 ngày 26/7/2016 (do trước đây có vay tiền tại Ngân hàng TMCP Á nên đã ký hợp đồng thế chấp từ trước). Ông C và bà đã thế chấp tài sản cho Ngân hàng để đảm bảo khoản vay là 05 quyền sử dụng đất như Ngân hàng xác định. Từ khi vay đến trước khi ông C mất thì bà và gia đình đã đóng lãi đầy đủ cho Ngân hàng. Sau này khi ông C mất bà không trả nợ Ngân hàng được vì nuôi tôm bị thua lỗ, mua bán cũng không được. Nay Ngân hàng yêu cầu bà trả số tiền vay thì bà cũng đồng ý nhưng bà xin được không tính lãi nữa, cụ thể bà L1 yêu cầu Ngân hàng K nợ, không phát sinh lãi thêm, bà sẽ trả vốn từ từ, đối với khoản tiền lãi đến thời điểm hiện tại bà yêu cầu Ngân hàng miễn cho bà. Ông C chết năm 2023 không để lại di chúc và hiện cũng chưa chia thừa kế di sản của ông C. Hiện tại, các phần đất thế chấp vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà cùng các con.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Trọng Á trình bày: Anh biết việc vay tiền và thế chấp tài sản do cha mẹ anh là ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị L1 trực tiếp thực hiện. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì anh cùng ý kiến với bà L1 về việc vay tiền và hợp đồng thế chấp tài sản. Khi cha anh mất anh cũng biết đã thế chấp toàn bộ quyền sử dụng do ông C đứng tên cho Ngân hàng Á, gia đình chưa chia thừa kế đối với di sản của cha anh. Nay Ngân hàng yêu cầu người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông C trả nợ vay thì anh cũng biết và đồng ý cùng mẹ anh trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, anh trình bày hiện gia đình anh không có khả năng trả một lần số tiền vốn vay 332.533.353 đồng cùng tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng, anh yêu cầu Ngân hàng TMCP Á giảm nợ lãi lại đến thời điểm này và không tính lãi nữa, sau đó gia đình anh xin trả dần mỗi năm có bao nhiêu trả bấy nhiêu, đến khi hết nợ.
Biên bản lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Trọng N trình bày đồng ý cùng bà L1 trả nợ Ngân hàng, thống nhất ý kiến của bà L1. Anh N đồng ý trả nợ nhưng xin được thỏa thuận thêm để được Ngân hàng giảm tiền lãi và xin được trả từ từ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị M và chị Nguyễn Thị Ngọc Y đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sựvắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi đến Tòa án.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định yêu cầu bà Nguyễn Thị L1 cùng những người thừa kế của ông C trả nợ vay cho Ngân hàng với tổng số
3
tiền đến ngày 30/9/2024 là 444.539.647 đồng; Bị đơn bà Nguyễn Thị L1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Trọng  có mặt và trình bày ý kiến đồng ý trả nợ vốn cho Ngân hàng, xin phần tiền lãi và yêu cầu không tính lãi thêm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Trọng N, chị Nguyễn Thị Ngọc Y, chị Phạm Thị M đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ 02 lần, nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử văng mặt các đương sự.
Nội dung vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đối với bà Nguyễn Thị L1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông C. Buộc bà Nguyễn Thị L1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người thừa kế của ông Lê Văn C thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng vay đến ngày 30/9/2024 số tiền hợp đồng vay là 392.159.905 đồng (trong đó nợ gốc của khoản tiền vay là 300.000.000. đồng, nợ lãi trong hạn: 8.755.479 đồng, lãi quá hạn 82.054.109 đồng, phạt chậm trả 1.350.317 đồng) và số tiền nợ thẻ tín dụng là 48.608.478 đồng, nợ gốc là 32.533.353 đồng (có 4.058.089 đồng không tính lãi quá hạn), lãi quá hạn là 16.075.125 đồng, tổng cộng 440.768.383 đồng. Bà L1 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông C cũng phải chịu tiền lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi trả dứt nợ. Trường hợp bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông C không thanh toán được nợ trên thì cho nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đã được các bên ký kết; Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Á đối với số tiền lãi phạt chậm trả kể từ khi chuyển nợ quá hạn ngày 16 và ngày 18/4/2023 với số tiền 3.771.264 đồng. Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng theo quy định; Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị L1 là người cao tuổi được miễn án phí; người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông C là anh  và anh N phải chịu án phí đối với phần nghĩa vụ phải chịu; Ngân hàng phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đương sự; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (sau gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị L1 trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại ấp B, xã V, thành phố B. Nên đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét xử vắng mặt đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Trọng N, chị Phạm Thị M, chị Nguyễn Thị Ngọc Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
4
[3] Tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện xác định yêu cầu bà Nguyễn Thị L1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Trọng N và anh Lê Trọng  cùng có nghĩa vụ trả tiền nợ vay. Xét thấy, theo biên bản xác minh địa phương, ông Lê Văn C đã chết năm 2023, có vợ là bà Nguyễn Thị L1 và 02 con là anh Lê Trọng N và anh Lê Trọng Â, cha mẹ ông C đã chết trước đó. Như vậy, đến thời điểm xét xử, bà L1, anh N và anh  là hàng thừa kế hợp pháp của ông C và di sản của ông C vẫn chưa chia thừa kế. Căn cứ Điều 612, 613, 614 và Điều 615 Bộ luật Dân sự, bà L1, anh N và anh  có nghĩa vụ đối với phần nợ của ông C tại Ngân hàng TMCP Á. Anh  và anh N cũng đồng ý cùng bà L1 thanh toán nợ của ông C, nên yêu cầu cuả Ngân hàng là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu miễn giảm tiền lãi.
[4.1] Xét các hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số BLLCN.3147.191021 ngày 19/10/2021 và Phụ lục hợp đồng số BLLCN.3147.191021-PL-01 ngày 19/10/2021; số tiền vay 300.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn kinh doanh mua bán thức ăn tôm; Theo khế ước nhận nợ số [...] ngày 15/10/2022, số tiền vay 150.000.000 đồng, lãi suất 11,00%/năm cố định trong vòng 06 tháng, được điều chỉnh 03 tháng/lần cộng (+) 3%/năm; lãi phạt chậm trả 10%/năm; Khế ước nhận nợ số [...] ngày 18/10/2022 số tiền vay 150.000.000 đồng, lãi suất 13,00%/năm cố định trong vòng 03 tháng, và được điều chỉnh 03 tháng/lần cộng (+) 3,00%/năm; lãi phạt chậm trả 10%/năm.
Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 21/10/2021 thể hiện số thẻ 3567950000886049, loại thẻ Job Gold EMV số tiền 30.000.000 đồng, lãi trong hạn 25%/năm.
Hội đồng xét xử xét thấy các hợp đồng tín dụng nêu trên đã được nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Á với ông Lê Văn C, bà Nguyễn Thị L1 tự nguyện ký kết, các bên thừa nhận; hình thức, nội dung thỏa thuận phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng. Đại diện của nguyên đơn, bà L1 và anh Lê Trọng Â, anh Lê Trọng N thống nhất số tiền gốc còn nợ tại các hợp đồng tín dụng là 332.533.353 đồng. Bà L1, anh Â, anh N đồng ý trả nợ này cho nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là các tình tiết không phải chứng minh và được chấp nhận.
[4.2] Xét yêu cầu miễn giảm tiền lãi: Hội đồng xét xử xét thấy rằng, tại Hợp đồng tín dụng số BLLCN.3147.191021 ngày 19/10/2021 và Phụ lục hợp đồng số BLLCN.3147.191021-PL-01 ngày 19/10/2021; khế ước nhận nợ số [...] ngày 15/10/2022, nghi nhận số tiền vay 150.000.000 đồng, lãi suất 11,00%/năm cố định trong vòng 06 tháng, được điều chỉnh 03 tháng/lần cộng (+) 3%/năm; lãi phạt chậm trả 10%/năm; khế ước nhận nợ số [...] ngày 18/10/2022, ghi nhận số tiền vay 150.000.000 đồng, lãi suất 13,00%/năm cố định trong vòng 03 tháng, và được điều chỉnh 03 tháng/lần cộng (+) 3,00%/năm; lãi phạt chậm trả 10%/năm, các bên ký kết không quy định điều kiện miễn giảm tiền lãi đối với bên vay. Mặt khác, lãi suất tại các hợp đồng là lãi suất thả nổi, được điều chỉnh biên động tăng cộng thêm phần trăm lãi theo định kỳ, việc thỏa thuận lãi suất được các bên thống nhất tự nguyện ký kết, điều này phù hợp quy định tại Điều 7 Nghị quyết 01/2019 “1. Lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận...” nên lãi suất được tính dư nợ tại các hợp đồng tín dụng áp dụng cho hợp đồng của bà L1, ông C là phù hợp, số tiền lãi
5
trong hạn và lãi quá hạn đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn xác định chỉ miễn giảm lãi trường hợp bên vay thanh toán nợ một lần, không đồng ý miễn tiền lãi. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu miễn tiền lãi của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[4.3] Xét tiền lãi phạt chậm trả: Đại diện nguyên đơn xác định, ông C, bà L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay nên Ngân hàng đã gửi thông báo nợ quá hạn cho ông C, bà L1. Tại thông báo nợ quá hạn ghi nội dung việc chuyển nợ quá hạn sau 15 ngày kể từ ngày bên vay nhận được thông báo của Ngân hàng. Căn cứ biên nhận của ông Lê Văn C thể hiện ngày 01/4/2023 nhận được thông báo nên việc chuyển nợ quá hạn của Ngân hàng đối với khoản vay của ông C, bà L1 vào ngày 16/4/2023.
Căn cứ bảng tính lãi cụ thể của đại diện ngân hàng TMCP Á, xét thấy, kể từ sau ngày 16/4/2023, ngân hàng đã áp dụng mức lãi suất của lãi quá hạn là 150% đối với khoản vay 300.000.000 đồng nhưng lại tiếp tục chuyển dư nợ thanh toán từng kỳ để tính mức lãi phạt 10% là chưa phù hợp theo khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 01/2019 về việc “Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn”. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Á đối với khoản tiền lãi phạt của khoản vay kể từ sau ngày 16/4/2023 đến nay với số tiền là 3.778.710 đồng.
[5] Xét yêu cầu về quyền xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng, ông C, bà L1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất BLI.BĐCN.02.0607016 ngày 19/10/2021, nội dung thế chấp các quyền sử dụng đất gồm: Diện tích đất 185,30m² đất ở nông thôn thuộc thửa số 27, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UBND thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047330 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008; diện tích đất 4.700m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UBND thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047331 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008; diện tích đất 2.970m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UNBD thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047332 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008; diện tích đất 5.417,30m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 464, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UBND thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 926878 cho ông Lê Văn C vào ngày 30/3/2011; diện tích đất 2.641m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UBND thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047329 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008.
Hội đồng xét xử xét thấy, ông C và bà L1 đã ký kết hợp đồng thế chấp trên với Ngân hàng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và được công chứng theo quy định, được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B. Ông C đứng ra ký kết các hợp đồng thế chấp trên với Ngân hàng là đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 317, 318, 319, 320. Bộ luật Dân sự, Điều 27 Luật Đất đaiHợp đồng ghi nhận quyền thanh lý tài sản thế chấp cho Ngân hàng, nay bị đơn đã vi phạm Hợp đồng tín dụng như đã phân tích nêu trên nên Ngân hàng yêu cầu quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp có căn cứ chấp nhận.
6
[7] Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27/3/2024 thể hiện hiện trạng các tài sản thế chấp như sau: diện tích đất 4.700m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 03, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 047331 ngày 01/02/2008; diện tích đất 2.970m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 02, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 047332 ngày 01/02/2008 và diện tích đất 5.417,30m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 464, tờ bản đồ số 02, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 926878 ngày 30/3/2011 đều có hiện trạng là đất nuôi trồng thủy sản, không có tài sản trên đất. Đối với diện tích đất 2.641m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 02, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047329 ngày 01/02/2008 có tài sản trên đất gồm 01 căn nhà ở loại III. Có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có dán gạch ốp tường và sơn tường), nền gạch men, mái lợp tole xi măng; mái che phía trước: khung cột gỗ địa phương, mái lợp tole thiếc, phía dưới nền xi măng; 01 chòi lá: khung cột gỗ địa phương, vách lá, mái lợp tole xi măng, nền đất. Đối với diện tích đất 185,30m² đất ở nông thôn thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 02, theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047330 ngày 01/02/2008 có tài sản gồm: 01 căn nhà ở loại IV kết cấu khung cột bê tông cốt thép, vách xây tường gạch bao quanh (có sơn tường), nên lót gạch bông, mái lợp tole xi măng; một phần diện tích xây chuồng heo cặp sông B, kết cấu cột bê tông, vách xây cao trên 01met, nền xi măng, không lợp mái (chuồng heo không còn sử dụng). Bà L1 xác định toàn bộ các tài sản nêu trên hiện tại vẫn do bà cùng các con là anh Â, anh N, chị M, chị Ý quản lý, sử dụng. Do đó, các đương sự có nghĩa vụ giao tài sản khi Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
[8] Theo khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân sự quy định: “những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Cho đến thời điểm này, các bên không có thoả thuận khác. Vì vậy, phần nghĩa vụ tài sản của ông C thì hàng thừa kế thứ nhất của ông C gồm bà Nguyễn Thị L1 và các con là anh Lê Trọng  và Lê Trọng N phải có nghĩa vụ thực hiện trong phạm vi di sản do ông C chết để lại. Trường hợp nghĩa vụ để lại lớn hơn phần di sản để lại thì bà Nguyễn Thị L1 và các con anh Lê Trọng  và Lê Trọng N chỉ có nghĩa vụ thanh toán trong phạm vi di sản do ông C để lại.
[9] Về chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện về hợp đồng thế chấp của Ngân hàng thương mại cổ phần Á, nên bà Nguyễn Thị L1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
[10] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự bà Nguyễn Thị L1 và những người kế thừa nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 21.630.437đồng. Trong đó bà Nguyễn Thị Lệ C1 14.420.291 đồng; anh Lê Trọng  và anh Lê Trọng N chịu 7.210.146 đồng.
Bà L1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được chấp nhận cho miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Anh Lê Trọng  và anh Lê Trọng N phải nộp án phí tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Ngân hàng thương mại cổ phần Á phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền lãi không được chấp nhận là 300.000 đồng. Ngân hàng đã nộp 8.978.000 đồng tại biên lai số
7
0002146 ngày 13/11/2023 được đối trừ, ngân hàng được hoàn nhận lại số tiền 8.678.000 đồng.
[11] Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 292, 295, 298, 299, 317; khoản 1 Điều 318, Điều 319, 463, 466, 468; Điều 612, 613, 614 và Điều 615 Bộ luật Dân sự.
Điều 100, 103, điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các Tổ chức tín dụng.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đối với bà Nguyễn Thị L1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lê Văn C.
- Buộc bà Nguyễn Thị L1 và những người kế thừa nghĩa vụ của ông Lê Văn C là anh Lê Trọng  và anh Lê Trọng N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á tổng số tiền nợ vay tính đến ngày 30/9/2024 số tiền là 440.760.937 đồng Trong đó nợ gốc khoản tiền vay là 300.000.000. đồng, nợ lãi trong hạn: 8.755.479 đồng, lãi quá hạn 82.054.109 đồng, phạt chậm trả 1.342.871 đồng; nợ gốc thẻ tín dụng là 32.533.353 đồng (có 4.058.089 đồng không tính lãi quá hạn), lãi quá hạn là 16.075.125 đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị L1 và những người kế thừa nghĩa vụ của ông Lê Văn C là anh Lê Trọng  và anh Lê Trọng N tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký, kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 cho đến ngày thực tế bà Nguyễn Thị L1 và những người kế thừa nghĩa vụ của ông Lê Văn C là anh Lê Trọng  và anh Lê Trọng N trả hết nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị L1 và những người kế thừa nghĩa vụ của ông Lê Văn C là anh Lê Trọng  và anh Lê Trọng N không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay theo quy định của pháp luật gồm:
- Quyền sử dụng đất diện tích 185,30m² đất ở nông thôn thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UBND thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047330 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008 và tài sản trên đất là 01 căn nhà ở loại IV kết cấu khung cột bê tông cốt thép, vách xây tường gạch bao quanh (có sơn tường), nền lót gạch bông, mái lợp tole xi măng; một phần diện tích xây chuồng heo cặp sông B, kết cấu cột bê tông, vách xây cao trên 01met, nền xi măng, không lợp mái (chuồng heo không còn sử dụng).
8
- Quyền sử dụng đất diện tích 4.700m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 48, tờ bản đồ số 03, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UBND thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047331 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008.
- Quyền sử dụng đất diện tích 2.970m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UNBD thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047332 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008.
- Quyền sử dụng đất diện tích 5.417,30m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất số 464, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UBND thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BĐ 926878 cho ông Lê Văn C vào ngày 30/3/2011.
- Quyền sử dụng đất diện tích 2.641m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, được UBND thị xã B (Nay là UBND thành phố B), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AM 047329 cho ông Lê Văn C vào ngày 01/02/2008 và tài sản trên đất là 01 căn nhà ở loại III. Có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có dán gạch ốp tường và sơn tường), nền gạch men, mái lợp tole xi măng; mái che phía trước: khung cột gỗ địa phương, mái lợp tole thiếc, phía dưới nền xi măng; 01 chòi lá: khung cột gỗ địa phương, vách lá, mái lợp tole xi măng, nền đất .
- Buộc bà Nguyễn Thị L1, anh Lê Trọng Â, anh Lê Trọng N, chị Phạm Thị M, chị Nguyễn Thị Ngọc Y đang quản lý tài sản thế chấp phải có nghĩa vụ giao lại tài sản khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý phát mãi để thu hồi nợ cho nguyên đơn.
- Không chấp nhận yêu cầu trả lãi phạt chậm trả của Ngân hàng TMCP Á đối với số tiền lãi là 3.778.710 đồng.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 450.000 đồng. Bà Nguyễn Thị L1 phải chịu toàn bộ. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á đã dự nộp số tiền 450.000 đồng và đã chi hết, buộc bà Nguyễn Thị L1 phải nộp số tiền 450.000 đồng để hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á.
- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 21.630.437 đồng, trong đó bà Nguyễn Thị L1 phải nộp 14.420.291 đồng; anh Lê Trọng  và anh Lê Trọng N phải nộp 7.210.146 đồng.
Bà L1 được chấp nhận cho miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Anh Lê Trọng  và anh Lê Trọng N phải nộp án phí tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Ngân hàng thương mại cổ phần Á phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Ngân hàng đã nộp 8.978.000 đồng tại biên lai số 0002146 ngày 13/11/2023 được đối trừ, ngân hàng được hoàn nhận lại số tiền 8.678.000 đồng.
- Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
9
- Án sơ thẩm xử công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Chi |
Nơi nhận:
|
10
Bản án số 164/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 164/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn
