Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 164/2025/HSPT

Ngày: 24/10/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân

Bà Đào Thị Thu Thủy

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi –Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21 và 24 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 216/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 9 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HS-ST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa.

* Bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Văn N, sinh ngày 11/4/2007 (tính đến ngày phạm tội 17 tuổi 7 tháng 9 ngày; đến ngày xét xử bị cáo đã đủ 18 tuổi), tại xã H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, tỉnh Thanh Hóa; CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Lê Văn T và bà Đỗ Thị S; Vợ, con; chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T - Có mặt.

  2. Phạm Ngọc Đ, sinh ngày 13/8/2004 tại xã Đ, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn C, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa; CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Phạm Ngọc C và bà Đỗ Thị C1; Vợ, Con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/11/2024 có hành vi Cố ý gây thương tích , ngày 18/4/2025 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính 6.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giam tại từ ngày 14/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - Có mặt.

* Bị cáo không kháng cáo:

  1. Bách Gia P, sinh ngày 28/7/2008 (tính đến ngày phạm tội 16 tuổi 4 tháng 8 ngày), tại xã H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa; CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Bách Văn N1 và bà Vũ Thị V; Vợ, Con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam tại từ ngày 14/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - Có mặt.

  2. Đỗ Lường H, sinh ngày 01/9/2007 (tính đến ngày phạm tội 17 tuổi 2 tháng 19 ngày), tại xã H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú tại: thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa; CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; Con ông Đỗ Văn H1 và bà Trần Thị H2; Vợ, Con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam tại từ ngày 14/4/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T - Có mặt.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo có kháng cáo:

  • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Bách Gia P: Bà Vũ Thị V, sinh năm 1986 - Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa.

  • Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Lường H: Bà Trần Thị H2, sinh năm 1976 - Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Thanh Hóa.

* Người bào chữa cho bị cáo:

  • Người bào chữa cho bị cáo Bách Gia P: Bà Nguyễn Thị Q - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.

  • Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Lường H: Bà Lê Thu H3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.

  • Người bào chữa cho các bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H, Phạm Ngọc Đ: Ông Đỗ Văn K - Luật sư Công ty L1 – Thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số D Đường số A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt ngày 21/10/2025).

* Những làm chứng: (Đều vắng mặt)

  • Anh Lê Danh N2, sinh ngày 17/3/2007

  • Bà Lê Thị N3, sinh năm 1966

  • Anh Lê Văn T1, sinh năm 2003

  • Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1994

  • Anh Trương Văn H4, Sinh năm 1990

  • Ông Đỗ Ngọc L, Sinh năm 1959

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 35 phút ngày 20/11/2024, tổ công tác Công an xã H làm nhiệm vụ tại quán I (thuộc thôn F, xã H, huyện H, nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa) phát hiện 05 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Lê Văn N; Đỗ Lường H; Bách Gia P, Lê Danh N2 đều trú tại xã H, tỉnh Thanh Hóa; Phạm Ngọc Đ trú tại thôn C, xã Đ, tỉnh Thanh Hóa. Thu giữ 03 túi nilon (dạng zip) kích thước (7x4) cm, chứa sợi màu vàng nâu; 01 điếu cày có bám dính chất màu đen; 01 bật lửa ga màu xanh;01 điện thoại iPhone XS Max màu vàng của Phạm Ngọc Đ; 01 xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 36F1-455.13 do Đ điều khiển.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận: Lê Văn N rủ Đỗ Lường H, Bách Gia P, Phạm Ngọc Đ, Lê Danh N2 cùng sử dụng ma túy loại “TOBACO”. P đã liên hệ người bán ma túy qua tài khoản Facebook và T3 có tên “Dat2662004 Ngoc Sinh” và “Nông Thôn Nghèo”. Sau đó, P thông báo cho N, H đi cùng đến địa điểm hẹn tại gần quán B2 (xã H) để mua ma túy. P, N, H đi bằng xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS 36F1-455.13 do Phạm Ngọc Đ điều khiển. Tại điểm hẹn, N đưa người bán 300.000 đồng, nhận 03 túi nilon chứa ma túy, rồi cả nhóm quay về quán I. Tại đây, Lê Văn N sử dụng 01 điếu cày bằng tre dài 65cm, đường kính ống hút 4,5cm, có bọc kim loại màu vàng để hút ma túy ngay trước mặt các đối tượng còn lại. Bách Gia P và Đỗ Lường H thay nhau sử dụng điếu cày để hút ma túy. Sau đó, H đưa điếu cày cho Lê Danh N2 sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 9122/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của V1, Bộ C2 kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMB-BUTINACA trong mẫu chất màu đen bám dính trong điều cày gửi giám định, không xác định được khối lượng mẫu.

Tại Bản kết luận giám định số 9123/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của V1, Bộ C2 kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMB-INACA, MDMB-BUTINACA trong mẫu các sợi màu vàng nâu gửi giám định, tổng khối lượng mẫu 3,745 gam.

Tại Bản kết luận giám định số: 9124/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của V1, Bộ C2 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong các mẫu nước tiểu ghi thu của Lê Văn N, Đỗ Lường H, Bách Văn P1, Phạm Ngọc Đ và Lê Danh N2 gửi giám định.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HSST ngày 20/8/2025 của TAND khu vực 4 – Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P.

Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Đỗ Lường H.

Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc Đ.

Căn cứ: Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H, Phạm Ngọc Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: 1. Bị cáo Lê Văn N 6 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

2. Bị cáo Bách Gia P 05 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

3. Bị cáo Phạm Ngọc Đ: 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

4. Bị cáo Đỗ Lường H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

- Ngày 03/9/2025, bị cáo Lê Văn N và Phạm Ngọc Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ngày 28/8/2025, người đại diện hợp pháp của bị cáo Bách Gia P và Đỗ Lường H kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm làm rõ các tình tiết có liên quan đến vụ án ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bị cáo và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo và người đại diện hợp pháp cho các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo P, bị cáo H: Thống với bản án sơ thẩm về tội danh và điều luật áp dụng, tuy nhiên mức hình phạt tòa sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo P, H. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt; Tại phiên tòa phúc thẩm xuất trình thêm tình tiết mới: bị cáo P có ông bà nội là người có công với cách mạng, được chủ tịch UBND tỉnh T tặng bằng khen; Bị cáo H có bà nội là vợ liệt sỹ, hiện bà và gia đình bị cáo H đang thờ cúng liệt sỹ Lê Thanh B. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, Luật tư pháp đối với người chưa thành niên phạm tội để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Luật sư bào chữa cho các bị cáo N, P, H, Đ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” tại Điểm h Khoản 1 Điều 51 BLHS và áp dụng Khoản 2 Điều 54 BLHS để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề đối với tất cả các bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hóa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Phạm Ngọc Đ. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn N và người đại diện hợp pháp của bị cáo Bách Gia P, Đỗ Lường H: Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HSST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa theo hướng: Giảm hình phạt cho bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bách Gia P, Đỗ Lường H là người chưa thành niên phạm tội không kháng cáo, tuy nhiên người đại diện hợp pháp của các bị cáo có đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng Hình sự. Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn N, Phạm Ngọc Đ và người đại diện hợp pháp của các bị cáo: Bách Gia P, Đỗ Lường H nộp trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo:

[2.1]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội: Tối ngày 20/11/2024, bị cáo N rủ các bị cáo Bách Gia P, Đỗ Lường H, Phạm Ngọc Đ mua ma tuý về sử dụng. Bách Gia P tìm tài khoản người bán ma túy cung cấp để Phạm Ngọc Đ trực tiếp nhắn tin hỏi mua ma túy, sau đó N, H, Đ cùng đi đến khu vực thôn Đ, xã H mua ma tuý, mượn điếu cày đem về quán I thuộc thôn F, xã H, tỉnh Thanh Hóa để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 35 phút ngày 20/11/2024 khi Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H, Phạm Ngọc Đ đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang.

Trong vụ án này bị cáo N là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo mua ma túy về sử dụng. Khi N khởi xướng thì các bị cáo đều đồng tình và cùng thực hiện hành vi phạm tội: Bách Gia P lên mạng tìm tài khoản người bán ma túy, Phạm Ngọc Đ trực tiếp nhắn tin hỏi mua ma túy và là người điều khiển xe máy của mình chở N, P, H cùng đi mua ma túy và sử dụng ma túy. Vì vậy bị cáo N giữ vai trò thứ nhất trong vụ án; các bị cáo P, Đ, Hoàng giữ vai trò ngang nhau thứ hai sau N là phù hợp.

Do có hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H, Phạm Ngọc Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[2.2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo:

Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (tình tiêt giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự). Bị cáo Lê Văn N có ông nội là Lê Văn B1 được tặng huân, huy chương kháng chiến; Bách Gia P có bố đẻ là Bách Văn N1 là chiến sĩ đang làm nhiệm vụ dài ngày tại Trường sa được tặng giấy khen (tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).

Bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H tại thời điểm phạm tội các bị cáo là người chưa thành niên nên căn cứ Điều 90, 91 Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đê áp dụng hình phạt đối với các bị cáo.

[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo xuất trình thêm tình tiết mới: Bị cáo Lê Văn N có ông nội là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, là chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đầy, được tặng thưởng nhiều huân chương kháng chiến. Bị cáo Bách Gia P có ông bà nội đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được UBND tỉnh T tặng bằng khen. Bị cáo Đỗ Lường H có bà nội là vợ liệt sỹ, hiện bà và gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sỹ Lê Thanh B.

Đối với bị cáo Đ: Trong vụ án, tại thời điểm phạm tội là bị cáo duy nhất đã thành niên. Tại phiên tòa luật sư bào chữa cho bị cáo Đ xuất trình Biên lai nộp tiền phạt theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 18/4/2025 của Công an xã H về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Việc nộp phạt của bị cáo không là tình tiết giảm nhẹ, vì vậy không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Đ.

Đối với các bị cáo N, P, H đều có nhân thân tốt, là người chưa thành niên phạm tội. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo xuất trình thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ khác nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

Không có căn cứ chấp nhận đề nghị của luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” tại điểm h Điều 51 BLHS và áp dụng Khoản 2 Điều 54 để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề đối với các bị cáo.

[3] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí phúc thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Các bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc Đ.

2. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Văn N; Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của người đại diện hợp pháp của bị cáo Bách Gia P, Đỗ Lường H - Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2025/HSST ngày 20/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hoá.

Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 119; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Lường Văn H5.

Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Ngọc Đ.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Phạm Ngọc Đ, Đỗ lường H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt:

  • - Bị cáo Lê Văn N 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

  • - Bị cáo Bách Gia P 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

  • - Bị cáo Đỗ Lường H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

  • - Bị cáo Phạm Ngọc Đ 08 (T4) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2025.

3. Về án án phí: Các bị cáo Lê Văn N, Bách Gia P, Đỗ Lường H không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm. Bị cáo Phạm Ngọc Đ phải chịu 200.000đ án phí Hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7);
  • - TAND khu vực 4 - Thanh Hoá;
  • - VKSND khu vực 4 - Thanh Hoá;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Bị cáo; đại diện HP của bị cáo
  • - Lưu: hồ sơ vụ án
  • - Lưu: VP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2025/HSPT ngày 24/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 164/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 22 giờ 35 phút ngày 20/11/2024, tổ công tác Công an xã H làm nhiệm vụ tại quán I (thuộc thôn F, xã H, tỉnh Thanh Hoá) phát hiện 05 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Lê Văn N, Đỗ Lường H; Bách Gia P, Lê Danh N đều trú tại xã H, tỉnh Thanh Hoá; Phạm Ngọc Đ trú tại thôn C, xã Đ, tỉnh Thanh Hoá. Thu giữ 03 túi nilon (dạng zip) kích thước (7x4) cm, chứa sợi màu vàng nâu; 01 điếu cày có bám dính chất màu đen; 01 bật lửa ga màu xanh;01 điện thoại iPhone XS Max màu vàng của Phạm Ngọc Đ; 01 xe máy Honda Wave màu xanh, BKS: 36F1-455.13 do Đ điều khiển
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger