|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 164/2025/DS-PT Ngày: 18 - 3 - 2025 “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Ngọt |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Quang Sơn Ông Lê Văn Phận |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2025/DS-PT ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 190/2024/DS–ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 440/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1954; Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Xuân M, sinh năm 1984. Địa chỉ: C, ấp I, xã Q, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
- Bị đơn: Ông Bùi Văn Thắng E, sinh năm: 1977; Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị N1, sinh năm: 1979; (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1964; Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Bà L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Đăng ký thường trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà là chủ sử dụng phần đất thuộc thửa số 130, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre (theo đo đạc thực tế thuộc thửa số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m²). Phần đất này do bà đứng tên sổ mục kê và hiện tại chưa cấp quyền sử dụng đất cho ai. Do là chị em ruột với nhau nên trước đây bà có cho bà Nguyễn Thị L mượn phần đất trên để làm chỗ buôn bán. Việc bà cho bà L mượn phần đất thì các bên chỉ thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản.
Sau khi mượn đất, bà L xây dựng căn nhà tường để làm chỗ buôn bán và con của bà là Đặng Thị N1 ở cùng, phụ buôn bán với bà L. Đến năm 2016, bà muốn lấy lại phần đất đã cho bà L mượn trước đó thì bà L yêu cầu bà phải hỗ trợ cho bà L số tiền đã bỏ ra để xây dựng nhà. Sau đó, ông T Em đến nói với bà là sẽ cho bà mượn số tiền 300.000.000 đồng để trả tiền hỗ trợ nhà cho bà L. Nghĩ là người thân trong gia đình, bà cũng muốn lấy lại phần đất nên đồng ý với đề nghị của ông Thắng E là bà sẽ mượn của ông T Em số tiền 300.000.000 đồng trong thời hạn 05 năm (từ ngày 02/6/2016 đến ngày 02/6/2021), hai bên không thỏa thuận về lãi suất, không thỏa thuận về việc thế chấp căn nhà và phần đất thửa số 130, tờ bản đồ số 35. Khi thỏa thuận mượn tiền, ông Thắng E đã lập sẵn một giấy với tựa đề “Hợp đồng cho mượn tiền mặt” không đề ngày tháng của năm 2016. Do tin tưởng ông T Em là con rễ, bà nghĩ giấy hợp đồng nêu trên có nội dung là ông T Em cho bà mượn 300.000.000 đồng nên bà không xem lại nội dung mà đồng ý ký tên. Số tiền ông T Em cho bà mượn thì bà không nhận trực tiếp mà ông T Em đưa tiền cho bà N1 để bà N1 đưa cho bà L.
Sau khi nhận số tiền 300.000.000 đồng, bà L dọn đi nơi khác. Do phần đất và căn nhà nằm ở chợ M1 nên bà cho bà N1 và ông T Em sử dụng để buôn bán, thỏa thuận này các bên cũng chỉ nói miệng, không lập thành văn bản. Từ khi bà N1 và ông T Em sử dụng phần đất và căn nhà thì không xây dựng hay sửa chữa, tu bổ gì thêm.
Khi đến hạn trả tiền, bà đến gặp ông T Em để trả lại số tiền đã mượn nhưng ông T Em không đồng ý. Ông Thắng E cho rằng ông đã giao cho bà L số tiền 300.000.000 đồng, bà L giao đất và nhà cho ông quản lý, sử dụng nên ông không đồng ý giao lại nhà và đất cho bà. Nếu bà muốn chuộc lại đất và nhà thì phải hoàn trả lại cho ông T Em giá trị phần đất và tài sản trên đất theo giá thị trường nên bà không đồng ý. Bà đồng ý với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Nay bà khởi kiện yêu cầu hủy giấy “Hợp đồng cho mượn tiền mặt” đề năm 2016, yêu cầu ông Bùi Văn T Em trả lại tài sản là phần đất theo đo đạc thực tế thuộc thửa đất số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m² tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất. Bà đồng ý trả lại cho ông Bùi Văn T Em số tiền 300.000.000 đồng nhưng xin được trả dần 50.000.000 đồng/năm cho đến khi trả tất nợ.
Theo đơn phản tố, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Bùi Văn T Em trình bày:
Phần đất thuộc thửa số 130, tờ bản đồ số 35 tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị L. Bà L xây dựng nhà trên phần đất này và buôn bán. Đến năm 2008, ông và bà Đặng Thị N1 kết hôn và về sống cùng với bà L tại phần đất trên để bà N1 phụ bà L buôn bán.
Vào năm 2016, bà L có bàn bạc với bà N sẽ để lại phần đất và căn nhà trên đất cho bà N với giá 300.000.000 đồng. Khi đó, do bà N không có tiền nên ông thỏa thuận cho bà N mượn số tiền 300.000.000 đồng để mua lại phần đất của bà L. Tuy nhiên, điều kiện mà ông cho bà N mượn tiền là sau khi kết thúc thời hạn mượn tiền là 05 năm (từ ngày 02/6/2016 đến ngày 02/6/2021) bà N phải trả lại số tiền là giá trị phần đất và căn nhà trên đất theo giá thị trường tại thời điểm giao trả, tài sản thế chấp là căn nhà và phần đất nêu trên. Sự thỏa thuận của các bên được lập thành “Hợp đồng cho mượn tiền mặt”, bà N thống nhất nội dung thỏa thuận và đồng ý ký tên.
Ngày 17/7/2016, ông đã đưa cho bà N1 số tiền 300.000.000 đồng để bà N1 trả cho bà L và các bên có lập “Giấy thỏa thuận” đề ngày 17/7/2016. Số tiền này là tiền của cá nhân ông. Sau khi giao tiền, bà L giao lại cho ông và bà N1 quản lý, sử dụng phần đất và căn nhà cho đến nay. Trong quá trình sử dụng, ông vẫn giữ nguyên hiện trạng như trước đây bà L xây dựng, không cải tạo hay tu bổ gì thêm đối với phần đất và căn nhà. Hiện tại, phần đất trên vẫn chưa cấp quyền sử dụng cho ai. Ông đồng ý với kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Khi đến hạn trả tiền, bà N đến gặp ông để yêu cầu được trả lại số tiền 300.000.000 đồng nhưng ông không đồng ý do trước đó các bên đã thỏa thuận nếu bà N muốn lấy lại phần đất và căn nhà thì phải trả lại cho ông giá trị phần đất và tài sản trên đất theo giá thị trường nhưng bà N không đồng ý nên phát sinh tranh chấp.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà N thì ông không đồng ý. Trường hợp nếu bà N muốn nhận lại phần đất và căn nhà thì phải hoàn trả cho ông giá trị phần đất và căn nhà trên đất theo đo đạc thực tế thuộc thửa số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m² tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre, tổng giá trị tài sản theo biên bản định giá tài sản là 985.318.742 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị N1 trình bày:
Trước đây, bà và ông Bùi Văn T Em là vợ chồng nhưng quá trình chung sống không hạnh phúc nên đã ly hôn theo Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre và Bản án số: 21/2024/HNGĐ-PT ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
Vào năm 2016, bà N muốn lấy lại phần đất đã cho bà L mượn trước đó nhưng bà L yêu cầu bà N phải hỗ trợ cho bà L số tiền đã bỏ ra để xây dựng nhà nên bà N có mượn của ông T Em số tiền 300.000.000 đồng để đưa cho bà L. Việc bà N mượn tiền của ông T Em thì ông Thắng E có lập tờ “Hợp đồng cho mượn tiền mặt” và bà N có ký tên xác nhận. Sau đó, ông T Em có đưa cho bà số tiền 300.000.000 đồng để bà đưa cho bà L, số tiền này là tiền của cá nhân ông Thắng E.
Sau khi bà L dời đi nơi khác, bà và ông Thắng E vẫn sử dụng căn nhà mà bà L xây dựng trước đó để tiếp tục buôn bán. Trong quá trình sử dụng phần đất và căn nhà, bà vẫn giữ nguyên hiện trạng như trước đây, không cải tạo hay tu bổ gì thêm. Nay bà N yêu cầu khởi kiện thì bà đồng ý hoàn trả lại phần đất và căn nhà theo yêu cầu khởi kiện của bà N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như không gửi văn bản trình bày ý kiến về những nội dung có liên quan đến vụ án.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 190/2024/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam quyết định:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ các điều 117, 309, 315, 316 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị N về việc tuyên bố Hợp đồng cho mượn tiền lập năm 2016 giữa bà Nguyễn Thị N và ông Bùi Văn Thắng E là vô hiệu.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Bùi Văn T Em trả lại nhà và đất, cụ thể:
- Buộc ông Bùi Văn T Em có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N phần đất thuộc thửa số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m² tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất (Có bản vẽ kèm theo).
- Ghi nhận bà Đặng Thị N1 đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị N phần đất thuộc thửa số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m² tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất (Có bản vẽ kèm theo).
- Buộc bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Văn T Em số tiền 739.427.500 đồng (Bảy trăm ba mươi chín triệu bốn trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn T Em về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị N trả lại giá trị phần đất thuộc thửa số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m² tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất theo giá thị trường với số tiền là 985.318.742 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn Thắng E, buộc bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Văn T Em số tiền 739.427.500 đồng (Bảy trăm ba mươi chín triệu bốn trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, bà N không đồng ý trả cho ông Bùi Văn T Em số tiền 739.427.500 đồng. Bà N chỉ đồng ý trả cho ông T Em số tiền 300.000.000 đồng. Bà N yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà.
Tại Quyết định số 01/QĐ-VKS-DS Ngày 10 tháng 12 năm 2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 190/2024/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, với lý do: bản án sơ thẩm nhận định “Hợp đồng cho mượn tiền mặt” thì các bên không căn cứ vào giá trị nhà đất vào thời điểm giao trả để làm cơ sở tính giá trị, mà dựa vào giá trị đồng tiền thực tế, cụ thể là giá vàng để làm cơ sở giải quyết vụ án. Đồng thời, Tòa án truy cập vào trang Web: tygiavang.vn giấy phép số: 1147/GP-TĐTT do Sở T1 cấp ngày 05/5/2015 để lấy thông tin giá vàng thời điểm ngày 02/6/2016 và thời điểm ngày 13/11/2024 làm cơ sở tính toán chênh lệch 300.000.000 đồng thời điểm mượn và 300.000.000 đồng tại thời điểm xét xử để buộc bà N phải trả cho ông T Em số tiền 739.427.500 đồng là không có căn cứ, trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N. Vì vậy, kháng nghị toàn bộ Bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm theo hướng: Sửa bản án dân sự sơ thẩm 190/2024/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam; buộc bà N phải trả cho ông T Em số tiền 300.000.000 đồng và phải chịu lãi suất chậm trả của số tiền 300.000.000 đồng kể từ ngày hết hạn hợp đồng đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất theo quy định tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N giữ nguyên kháng cáo và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; đồng ý kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.
Bị đơn ông Bùi Văn T Em không đồng ý kháng cáo của bà N; không đồng ý kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị N1 đồng ý kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và đồng ý kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.
Các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre giữ nguyên kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tuyên xử theo hướng: chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 190/2024/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo hướng: Xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Buộc bà N phải trả cho ông T Em số tiền 300.000.000 đồng và phải chịu lãi suất chậm trả của số tiền 300.000.000 đồng kể từ ngày hết hạn hợp đồng đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất theo quy định tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N; Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định; Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre kháng nghị và gửi Quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và xét kháng nghị của Viện trưởng Viên Kiểm sát nhân dân tỉnh B, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Bà Nguyễn Thị N thừa nhận có mượn của ông Bùi Văn T Em số tiền 300.000.000 đồng vào năm 2016. Hai bên có lập “Hợp đồng cho mượn tiền mặt” không ghi ngày tháng, có ghi năm 2016. Nội dung thể hiện: tiền mượn sử dụng vào việc hỗ trợ tiền xây dựng nhà cho bà Nguyễn Thị L; tài sản thế chấp là căn nhà bà N lấy lại từ bà Nguyễn Thị L với diện tích 46,4m²; thời hạn cho mượn là 05 năm, tính từ ngày 02/6/2016 đến ngày 02/6/2021; sau 05 năm bà N trả tiền lại thì ông T Em trả lại nhà và phương thức trả theo sự thỏa thuận giá trị đồng tiền trong thực tế tại thời điểm giao trả, theo sự thỏa thuận của ông T Em, trong thời hạn 05 năm thì ông T Em sử dụng nhà; sau khi ký hợp đồng này thì bà N đã nhận đủ tiền từ ông T Em giao là 300.000.000 đồng. Căn cứ nội dung hợp đồng nêu trên có cơ sở xác định đây là giao dịch vay tiền không có lãi suất theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “hợp đồng cầm cố quyền sử dụng dất” là không đúng quan hệ tranh chấp.
- Căn cứ vào lời trình bày của các bên, nội dung hợp đồng thì bà N vay tiền của ông T Em nhằm mục đích trả tiền xây dựng căn nhà trên phần đất do bà N là chủ sử dụng cho bà L để bà L di dời đi nơi khác trả đất; việc giao căn nhà cho ông T Em ở một phần là để đảm bảo cho khoản vay 300.000.000 đồng và một phần vì ông T Em là con rễ của bà N. Bà N giao nhà để vợ chồng ông T Em làm chỗ buôn bán kinh doanh không phải cầm cố quyền sử dụng đất như bản án sơ thẩm đã nhận định. Khi thời hạn vay tiền đã hết, bà N có nghĩa vụ trả lại số tiền đã vay cho ông T Em thì ông T Em có nghĩa vụ trả lại nhà cho bà N và di dời đi nơi khác. Ông T Em yêu cầu trả tiền theo giá trị nhà, đất tại thời điểm hiện tại với số tiền 985.318.742 đồng là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của ông T Em là phù hợp. Do là giao dịch vay không lãi, ông T Em có yêu cầu tính theo giá trị đồng tiền thực tế tại thời điểm trả nên cần buộc bà N phải chịu lãi suất chậm trả của số tiền 300.000.000 đồng kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất 0,83% theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp. Đối với việc ông T Em yêu cầu lấy giá vàng làm cơ sở giải quyết vụ án là không có căn cứ.
- Tòa án cấp sơ thẩm nhận định “Hợp đồng cho mượn tiền mặt” thì các bên không căn cứ vào giá trị nhà đất vào thời điểm giao trả để làm cơ sở tính giá trị, mà dựa vào giá trị đồng tiền thực tế, cụ thể là giá vàng để làm cơ sở giải quyết vụ án. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm truy cập vào trang Web: tygiavang.vn giấy phép số:1147/GP-TTĐT do Sở T1 cấp ngày 05/5/2015 để lấy thông tin giá vàng thời điểm ngày 02/6/2016 và thời điểm ngày 13/11/2024 làm cơ sở tính toán chênh lệch 300.000.000 đồng thời điểm mượn và 300.000.000 đồng tại thời điểm xét xử để buộc bà N phải trả cho ông T Em số tiền 739.427.500 đồng là không có căn cứ, trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N. Do đó, kháng cáo của bà N là có một phần được chấp nhận; kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là có cơ sở để chấp nhận.
- Tại “Hợp đồng cho mượn tiền mặt” đề năm 2016 (không đề ngày, tháng) giữa bà nguyễn Thị N và ông Bùi Văn Thắng E có thỏa thuận nội dung: “thời hạn cho mượn là 05 năm, tính từ ngày 02/6/2016 đến ngày 02/6/2021; sau 05 năm bà N trả tiền lại thì ông T Em trả lại nhà và phương thức trả theo sự thỏa thuận giá trị đồng tiền trong thực tế tại thời điểm giao trả, theo sự thỏa thuận của ông T Em”, tuy nhiên đến nay bà N chưa trả tiền cho ông T Em, nên buộc bà N phải trả tiền lãi cho ông T Em trong thời hạn 05 năm (60 tháng) tính từ ngày 02/6/2016 đến ngày 02/6/2021 theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự (0,83%/tháng); từ ngày hết hạn hợp đồng là 02/6/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 13/11/2024 (03 năm 06 tháng) được tính lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự (0,83%/tháng) là phù hợp, đảm bảo quyền lợi của đương sự.
- Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 190/2024/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre theo hướng: Buộc bà N phải trả cho ông T Em số tiền 300.000.000 đồng và phải chịu lãi suất, cụ thể như sau:
- - Tiền lãi trong thời hạn 05 năm (60 tháng) từ ngày 02/6/2016 đến ngày 02/6/2021 là: 300.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 60 tháng = 149.400.000 đồng.
- - Tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tính từ ngày hết hạn hợp đồng là ngày 02/6/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 13/11/2024 (là 03 năm 05 tháng 11 ngày): 300.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 03 năm 05 tháng 11 ngày = 103.003.000 đồng
- Sửa án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho phù hợp, cụ thể:
- Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 26.176.120 đồng = [20.000.000 đồng + (552.403.000 đồng- 400.000.000 đồng) x 4%]. Do bà N là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
- Ông Bùi Văn Thắng E phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với phần yêu cầu không được chấp nhận (985.318.742 đồng – 552.403.000 đồng) = 432.915.742 đồng, nên án phí có giá ngạch là: [20.000.000 đồng + (430.918.742 đồng – 400.000.000 đồng) x 4% = 21.316.629 đồng.
- Các phần khác của Quyết định bản án sơ thẩm, các đương sự không có kháng cáo; Viện Kiểm sát không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị N được chấp nhận một phần nên bà N không phải chịu án phí phúc thẩm.
Như vậy: Tổng cộng số tiền bà N phải trả cho ông T Em là 552.403.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N;
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 190/2024/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ các Điều 117, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị N về việc tuyên bố Hợp đồng cho mượn tiền lập năm 2016 giữa bà Nguyễn Thị N và ông Bùi Văn Thắng E là vô hiệu.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Bùi Văn T Em trả lại nhà và đất, cụ thể:
- Buộc ông Bùi Văn Thắng E có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị N phần đất thuộc thửa số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m² tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất (Có bản vẽ kèm theo).
- Ghi nhận bà Đặng Thị N1 đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị N phần đất thuộc thửa số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m² tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất (Có bản vẽ kèm theo).
- Buộc bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Văn T Em số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và tiền lãi là 252.403.000 đồng ( Hai trăm năm mươi hai triệu bốn trăm lẻ ba nghìn đồng). Tổng cộng là 552.403.000 đồng (Năm trăm năm mươi hai triệu bốn trăm lẻ ba nghìn đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn T Em về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị N trả lại giá trị phần đất thuộc thửa số 130B, tờ bản đồ số 35, diện tích 45.7m² tọa lạc tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre và căn nhà trên đất theo giá thị trường với số tiền là 985.318.742 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Bùi Văn Thắng E, buộc bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho ông Bùi Văn T Em số tiền 552.403.000 đồng (Năm trăm năm mươi hai triệu bốn trăm lẻ ba nghìn đồng).
- Về chi phí thu thập chứng cứ:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Thị N thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí.
- Ông Bùi Văn Thắng E phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 21.316.629 đồng (Hai mươi mốt triệu ba trăm mười sáu nghìn sáu trăm hai mươi chín đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.780.000 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002295 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Ông Thắng E còn phải nộp tiếp số tiền 536.629 đồng (Năm trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi chín đồng).
- Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí phúc thẩm. Bà N là người cao tuổi không có nộp tạm ứng án phí nên không xử lý về tạm ứng án phí.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, bị đơn ông Bùi Văn T Em mỗi người phải chịu ½ chi phí thu thập chứng cứ là 1.684.500 đồng (một triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đồng). Bà N đã nộp tạm ứng chi phí thu thập chứng cứ nên ông Thắng E có nghĩa vụ trả lại cho bà N 1.684.500 đồng (một triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Bùi Quang Sơn | Phạm Văn Ngọt |
| Lê Văn Phận |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Bến Tre;
- - TAND huyện Mỏ Cày Nam;
- - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam;
- - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Bến Tre;
- - Các đương sự;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Phạm Văn Ngọt |
Bản án số 164/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 164/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
