Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 164/2024/HSST

Ngày: 22/4/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Trần Đăng Vạn

2. Bà Nguyễn Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2024 hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thiên Â, sinh ngày 01/10/2000, tại: Thành phố Hồ Chí Minh, Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT: 273 Quốc lộ A, khu phố E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nơi cư trú: 5 B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Buôn bán cây kiểng; con ông Lê Trung N bà Phạm Thị D, chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/10/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa:

Bị hại:

Chị Trần Mai Ý N1sinh ngày 25/01/2008 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: G đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện hợp pháp cho chị Trần Mai Ý N1

1/ Ông Trần Quang H năm 1970 (có mặt).

2/ Bà Mai Thị Thu T năm 1971 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Trần Phương K năm 1996 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: G đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

2/ Ông Lê Xuân T1 năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: A, khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người bào chữa cho bị cáo Lê Thiên Â

Ông Nguyễn Hữu T2sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Số D đường F, khu phố E, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thiên Â(sinh năm 2000) quen biết Trần Mai Ý N1(sinh ngày 25/01/2008) thông qua mạng xã hội Facebook. Sau đó, Â1 N1đi học võ tại Trung tâm V, thành phố D, tỉnh Bình Dươngnên Âcũng đến tập võ cùng với N1Sau đó cả hai nảy sinh tình cảm, Âhỏi N1bao nhiêu tuổi thì N1nói N1sinh năm 2008. Trong thời gian quen nhau, giữa Âvà N1đã quan hệ tình dục 02 lần, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất khoảng 19 giờ một ngày đầu tháng 7/2022, sau khi tập võ xong Ârủ N1đi ăn uống rồi Â2 khiển xe mô tô chở N1đi chơi và rủ N1đi thuê khách sạn để quan hệ tình dục thì N1đồng ý. Sau đó, Â3 N1đi vào khách sạn B địa chỉ số A đường H, khu phố G, phường H, thành phố T phòng 202 lầu 1 để quan hệ tình dục. N1và Âcởi quần áo rồi quan hệ tình dục với nhau, Â4 tinh vào bao cao su. Khi quan hệ với ÂN1hoàn toàn tự nguyện. Sau khi quan hệ xong thì Â5 N1vẫn nằm trên giường, một lúc sau cả hai mặc quần áo vào rồi Âtrả phòng khách sạn, lấy xe chở N1ra về.

Lần thứ hai là vào khoảng 19 giờ một ngày giữa tháng 10 năm 2022. Ân rủ N1đi ăn uống và đi chơi, sau đó Ârủ N1vào khách sạn quan hệ tình dục thì N1đồng ý. Áchở N1đến khách sạn B1 phòng 304 lầu 2 để quan hệ tình dục. Âvà N1tự nguyện cởi quần áo rồi quan hệ tình dục, Â4 tinh vào bao cao su. Sau khi quan hệ xong thì cả hai vẫn nằm trên giường, một lúc sau mặc quần áo vào rồi Ân trả phòng khách sạn, lấy xe chở Nlra về.

Đến tháng 01 năm 2023 thì gia đình của Trần Mai Ý Nlbiết việc Âquen N1nên nói Âkhông được quen N1nữa nhưng Â6 tiếp tục quen N1Đến ngày 05/5/2023, chị Trần Phương K1 chị gái của N1 đến Công an phường Htrình báo sự việc.

Tại Cơ quan Điều tra, Lê Thiên Â7 nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 72/KL-XHTD-TTPY.2023 của Trung tâm pháp y-Sở y tế Thành phố H

  • Màng trinh: Dãn rộng. Rách cũ tại vị trí 4 giờ.

  • Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm đạo và hậu môn.

  • Không hiện diện AND người nam trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.

Ngày 15/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tkhởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam Lê Thiên Â

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Quang Hbà Mai Thị Thu T2 cha và mẹ của Trần Mai Ý N1có đơn bãi nại cho Lê Thiên Â8 yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 40/CT-VKSTPTĐ ngày 12/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Thiên  về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện bị hại ông Trần Quang H1 bày:

  • Về trách nhiệm dân sự thì gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

  • Về trách nhiệm hình sự thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức luận tội bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thiên Â9 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:

  • Về tội danh và điều khoản áp dụng thì thống nhất với đại diện Viểm kiểm sát nhân dân thành phố T3 không có tranh luận.

  • Về mức hình phạt mà đại diện Viểm kiểm sát nhân dân thành phố T3 đề nghị đối với bị cáo là cao. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo phạm tội là do hoàn cảnh, do thiếu sự quan tâm giáo dục chia sẽ của gia đình, cha bị cáo mồ côi từ nhỏ, mẹ bị cáo sinh ra ở ống cống hoàn cảnh gia đình rất đáng thương. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, bị cáo cũng nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Tcủa Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thiên  tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2022 đến tháng 10 năm 2022, Lê Thiên Â10 người đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với Trần Mai Ý N1sinh ngày 25/01/2008, lúc Âthực hiện hành vi giao cấu N1thì N1 từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tại khách sạn B2, đường H, khu phố G, phường H, thành phố T hành vi của Lê Thiên Â11 phạm vào tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Lê Thiên  về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe tình dục, danh dự, nhân phẩm của trẻ em, làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ 13 đến dưới 16 tuổi. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện do đó cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị hại cũng làm đơn xin bãi nại cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo;

    Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình, cũng như nhân thân của bị cáo, xét cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

  4. Xét đề nghị của vị luật sư đề nghị cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, trong vụ án này gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, tuy nhiên bị cáo cũng không tự nguyện bồi thường cho bị hại nên không có cơ sở để áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Luật sư đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Hội đồng xét xử xét thấy, tại Điều 54 Bộ luật hình sự có quy định Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng... khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét thấy bị cáo chỉ được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không có cơ sở để chấp nhận.

  5. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thiên Â9 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là chưa tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

  6. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  7. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Thiên  phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”;

  2. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Thiên  04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2023.

  3. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thiên  chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, đại diện bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án NDTP.HCM;
  • - VKSNDTP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại
  • - Đại diện bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến 16 tuổi

  • Số bản án: 164/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger