Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024/HS-PT

Ngày: 04/6/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Hà

2. Bà Phạm Uyên Thy

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Minh Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Hồng Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 124/2024/HSPT ngày 26 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo Trần Ngọc S, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-PT ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị kháng cáo:

Trần Ngọc S; Sinh năm: 1989, tại: Quảng Ninh; Đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Ngọc B (đã chết) và bà Cao Thị M; Có vợ Vương Diễm T, sinh năm 1987 và 01 con sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày: 28/10/2023 - Có mặt.

Bị hại có kháng cáo:

Chị Phạm Quỳnh A, sinh năm 2004; Đăng ký thường trú: Tổ B, ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 502/13/13 đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị, nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 25/10/2023, chị Phạm Quỳnh A đi bộ từ nhà trọ địa chỉ số E đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ra đường tìm mua đồ ăn. Lúc này, Trần Ngọc S và hai người bạn là Đ và H (không rõ thông tin lai lịch) đang ngồi nhậu trước quán “Zui Zui” địa chỉ số C đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy chị Quỳnh A đi bộ ngang qua. Lúc này, S mời chị Quỳnh A vào quán ăn uống, nhậu cùng với S, H và Đ thì chị Quỳnh A đồng ý. Khoảng 30 phút sau, do uống nhiều rượu nên chị Quỳnh A có dấu hiệu say xỉn nên đề nghị những người nhậu chung giúp đưa về nhà trọ trên đường T thì S bảo trùng hợp nơi ở của S nên sẽ giúp đưa chị Phạm Quỳnh A về thì chị Phạm Quỳnh A đồng ý, do say rượu nên chị Quỳnh A không biết gì nữa. Lợi dụng tình trạng say rượu của chị Quỳnh A nên S nảy sinh ý định đưa chị Quỳnh A đến khách sạn để quan hệ tình dục. Lúc này, S điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha FZ biển số: 59U1 – 316.15 chở chị Quỳnh A đi tìm khách sạn còn Đ và H điều khiển xe mô tô Honda AirBalde màu xanh (không rõ biển số) đi theo sau S chở chị Quỳnh A đến khách sạn L, địa chỉ số B đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Do chị Quỳnh A đã say rượu, không còn nhận thức được, không thể tự di chuyển nên Đ và H khiêng chị Quỳnh A lên phòng 205 để S và chị Quỳnh A ở chung còn H và Đ thì chung phòng 206.

Trong phòng 205, lợi dụng tình trạng say rượu của chị Quỳnh A, khi chị Quỳnh A đang nằm trên giường thì S lần lượt tự cởi bỏ toàn bộ quần áo đang mặc trên người mình trước rồi tiếp đến cởi toàn bộ quần áo ngoài và quần áo lót của chị Quỳnh A đang mặc trên người ra. S phát hiện trong quần lót vùng âm hộ chị Quỳnh A có chèn băng vệ sinh nên biết chị Quỳnh A đang trong giai đoạn ngày kinh nguyệt. S chỉ dùng hai bàn tay vuốt ve cơ thể, dùng các đầu ngón tay sờ, móc vào vùng âm hộ, vùng mu ngoài của âm hộ khoảng 01 phút đồng thời S sử dụng điện thoại di động cá nhân hiệu Sam Sung Galaxy Note 20 5G cầm trên tay trái bật chế độ chụp ảnh, bàn tay phải đặt lên ngực chị Quỳnh A chụp 01 tấm ảnh chị Quỳnh A năm ngửa trên giường khỏa thân hoàn toàn, chụp rõ hoàn toàn khuôn mặt của chị Quỳnh A. Sau đó, S tiếp tục dùng điện thoại di động trên tay trái, chuyển sang chế độ quay phim vừa quay phim vừa dùng đầu các ngón tay phải sờ, vuốt ve, nắn bóp vị trí ngực, di chuyển dần từ ngực đến bụng xuống vùng âm hộ của chị Quỳnh A: Chị Quỳnh A lờ mờ mở mắt nhưng không nói gì, chỉ dùng tay hất tay S ra nên chỉ quay được hơn 10 giây thì lưu video này lại trong điện thoại di động trên của S. S tiếp tục nằm đè lên người chị Quỳnh A, mặt cả hai người hướng sát vào nhau, lúc này dương vật của S bắt đầu cương cứng nên đã cạ vào vùng âm hộ của chị Quỳnh A, môi Sơn hôn khắp mặt, cổ, ngực, bàn tay S bóp mạnh vào hai vị trí ngực của chị Quỳnh A đồng thời lúc này chị Quỳnh A có dùng hai tay ôm lưng của S. Lúc này, chị Quỳnh A bắt đầu nói lảm nhảm với nội dung “Bố ơi con sai rồi đừng tìm chị gái, chị đừng sợ, em ở đây rồi” và la hét lớn với nội dung lảm nhảm nêu trên, dùng răng cắn vào vùng cằm phải của S một cái rất mạnh thì S dùng tay đẩy người chị Quỳnh A ra. Do đã quá say nên chị Quỳnh A có hành vi dùng hai tay tự tát vào hai bên má của mình và lảm nhảm “đừng đánh chị con, đừng đánh con, con biết lỗi rồi” vẫn với tư thế nằm như trên thì S ôm choàng lấy chị Quỳnh A, chị Quỳnh A tiếp tục dùng răng cắn mạnh vào vùng vai trái của S một cái khiến S đau nên đã dùng tay (không nhớ rõ tay nào) đẩy mạnh một cái vào vùng cằm, cổ của chị Quỳnh A. Sau đó, S nằm ra giường nằm cạnh chị Quỳnh A. Lúc này chị Quỳnh A bật dậy vừa lảm nhảm vừa tự đập trán mình vào thành gỗ đầu giường ngủ tự gây ra thương tích ở vùng trán chị Quỳnh A. S tiếp tục ôm chị Quỳnh A và cả hai nằm ngửa trên giường ngủ cùng nhau. Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày 25/10/2023, chị Quỳnh A dậy chạy vào nhà vệ sinh tắm rửa, lau người rời khỏi phòng 205 khách sạn. Đến chiều ngày 26/10/2023, chị Quỳnh A đến Công an P, quận G tố giác S về hành vi lợi dụng tình trạng say rượu và dùng vũ lực để giao cấu trái ý muốn của chị Quỳnh A như nội dung vụ việc trên. Chị Quỳnh A đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của Trần Ngọc S vào ngày 27/10/2023 tại Công an P, quận G và ngày 28/10/2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận G.

Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục số: 189/KLXHTD-TTPY.2023 ngày 09/11/2023 của Trung tâm P1 – Sở y tế Thành phố H kết luận tình trạng thương tổn tình dục của chị Phạm Quỳnh A như sau:

  • Màng trinh: Dãn. Không rách.
  • Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, âm hộ và hậu môn.
  • Không hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo, âm hộ và hậu môn;

Tại bản kết luận giám định ADN số: 1.304A-2023/KLGĐADN-TTPY ngày 09/11/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố H kết luận: ADN của Trần Ngọc S không hiện diện trong mẫu phết dịch âm đạo, phết dịch âm hộ và phết vùng hậu môn của Phạm Quỳnh A.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Quỳnh A yêu cầu S bồi thường tổn thất thiệt hại về mặt tinh thần với số tiền 18.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại về mặt thể chất, điều trị thương tích do bị S xâm hại tình dục với số tiền 12.000.000 đồng. Tổng số tiền mà chị Quỳnh A yêu cầu bồi thường thiệt hại cho là 30.000.000 đồng. Ngày 23/01/2024, vợ của S là bà Vương Diễm T đã bồi thường cho bị hại Quỳnh A số tiền 30.000.000 đồng. Chị Quỳnh A nhận số tiền nêu trên trên và không yêu cầu thêm.

Đối với 02 người liên quan tên Đ và H, S khai từng là người làm biển quảng cáo cho S, S chỉ biết Đ ở Quận A, H ở đường P, quận G còn địa chỉ cụ thể ở đâu thì S không biết. Sau khi Đ và H đưa chị Quỳnh A vào phòng 205 khách sạn L thì Đ và H trở về phòng 206 để nghỉ ngơi rồi sau đó cả hai ra về lúc nào thì S không rõ. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch, chưa làm việc được đối với Đ và H nên tiếp tục xác minh, điều tra khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSQGV, ngày 19/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Trần Ngọc S về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 141 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-PT ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Hiếp dâm”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 155 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/10/2023.

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 592 của Bộ luật Dân sự;

Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của bị hại: buộc bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần do danh sự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 30.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường xong. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại số tiền còn lại là 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Ngọc S không kháng cáo. Ngày 04/4/2024, bị hại Phạm Quỳnh A có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với bị cáo Trần Ngọc S và xem xét xử lý đồng phạm của bị cáo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị hại Phạm Quỳnh A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày lời khai: Trong phòng khách sạn, bị cáo đánh chị ngất xỉu 4-5 lần, sau đó nhiều lần tìm cách quan hệ tình dục với chị, nên phải xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 141 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Trần Ngọc S 10 năm tù về tội “Hiếp dâm”; Yêu cầu bị cáo Trần Ngọc S bồi thường thêm 300 triệu đồng, bao gồm 50 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần và 250 triệu đồng tiền điều trị thương tích, khắc phục hậu quả và xem xét xử lý các đồng phạm của bị cáo.
  • Bị cáo Trần Ngọc S đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.
  • Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Ngọc S về tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự tuyên phạt Trần Ngọc S 01 năm 09 tháng tù, là phù hợp. Bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường và xử lý đồng phạm của bị cáo nhưng không xuất trình thêm được chứng cứ mới để xem xét, nên không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc S 01 năm 09 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Về trách nhiệm Dân sự: buộc bị cáo bồi thường tiền tổn thất tinh thần do danh sự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường xong. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại Phạm Quỳnh A làm trong hạn luật định, nên được giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Ngọc S:

Xét thấy lời khai của bị cáo Trần Ngọc S tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 04 giờ ngày 25/10/2023, tại Phòng 205, Khách sạn L, địa chỉ số B đường T, Phường A, quận G, lợi dụng tình trạng say rượu không thể tự vệ được của chị Phạm Quỳnh A, bị cáo Trần Ngọc S đã có hành vi quan hệ tình dục khác, trái với ý muốn của bị hại như dùng các đầu ngón tay sờ, móc vào vùng âm hộ, vùng mu ngoài của âm hộ, đưa dương vật cương cứng cạ vào vùng âm hộ của chị Quỳnh A..., sau khi vụ việc xảy ra chị Phạm Quỳnh A đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự để xử lý đối với Trần Ngọc S.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Ngọc S về tội “Hiếp dâm”, theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự, là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo xin tăng hình phạt, tăng mức bồi thường và xem xét xử lý đồng phạm của bị hại Phạm Quỳnh A, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị hại Phạm Quỳnh A khai trong phòng khách sạn, bị cáo đánh chị ngất xỉu 4-5 lần, sau đó nhiều lần tìm cách quan hệ tình dục với chị. Bị cáo không thừa nhận. Ngoài lời khai của bị hại thì không có tài liệu chứng cứ gì khác để chứng minh, nên việc bị hại cho rằng bị cáo phạm tội thuộc tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm d khoản 2 Điều 141 của Bộ luật Hình sự là không có cơ sở. Bị cáo Trần Ngọc S không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 01 năm 09 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin tăng hình phạt đối với bị cáo của bị hại Phạm Quỳnh A.

Đối với kháng cáo xin tăng mức bồi thường, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Ngọc S đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bị hại nên phải chịu trách nhiệm bồi thường. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 592 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Trần Ngọc S bồi thường cho bị hại các khoản chi phí điều trị thương tích phục hồi sức khỏe và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, tổng cộng 30.000.000 đồng là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị hại yêu cầu bị cáo Trần Ngọc S bồi thường thêm 50 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần và 250 triệu đồng tiền điều trị thương tích, khắc phục hậu quả là không có căn cứ nên không chấp nhận.

Đối với 02 người tên Đ và H, S khai là người làm biển quảng cáo thuê cho S, không biết lai lịch địa chỉ cụ thể ở đâu. Sau khi Đ và H đưa chị Quỳnh A vào phòng 205 khách sạn L thì hai người trở về phòng 206 để nghỉ ngơi rồi sau đó cả hai ra về lúc nào thì S không rõ. Quá trình điều tra vụ án không có chứng cứ nào thể hiện Đ và H biết và giúp sức cho S thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại. Mặt khác Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch, chưa làm việc được đối với Đ và H, nên chưa đủ cơ sở để xử lý các đối tượng nêu trên trong vai trò đồng phạm với Trần Ngọc S.

Bị hại Phạm Quỳnh A kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm bị hại không cung cấp bổ sung được thêm tài liệu chứng cứ mới để xem xét, nên không có cơ sở chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Kháng cáo của bị hại không được chấp nhận, tuy nhiên căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Điều Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt, tăng mức bồi thường và xem xét xử lý đồng phạm với bị cáo của bị hại Phạm Quỳnh A đối với bị cáo Trần Ngọc S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/10/2023.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 584, 585, 592 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Trần Ngọc S bồi thường cho bị hại Phạm Quỳnh A số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu) đồng) là chi phí điều trị phục hồi sức khỏe và tiền tổn thất tinh thần do danh sự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Ghi nhận bị cáo Trần Ngọc S đã bồi thường xong. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường số tiền còn lại 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) của bị hại.

[2] Bị cáo Trần Ngọc S; Bị hại Phạm Quỳnh A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - VKSND Q.Gò Vấp; (1)
  • - P.PV06 - CATP; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Thi hành án Q.Gò Vấp; (2)
  • - TAND Q. Gò Vấp; (1)
  • - Công an Q. Gò Vấp; (1)
  • - UBND nơi BC cư trú; (2)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (21)(4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Công Huân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-PT ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội hiếp dâm)

  • Số bản án: 164/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Hiếp dâm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Sơn Hiếp dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger