TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 164/2024/HS-ST Ngày 24-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Lý Thị Thiên Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an thành phố H), xét xử sơ thẩm công khai, theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 457/TB-TA ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1994 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: 86/1/182 T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: A D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm T1 và bà Nguyễn Thị Ú; có vợ là chị Vũ Thị Y và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 06/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 12/01/2024; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1999; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D C, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số F H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Vũ Trọng K, Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 06/01/2024, tại khu vực trước tòa nhà SHP số 12 L, N, Hải Phòng, Công an quận N phát hiện bắt quả tang Nguyễn Ngọc A có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ: Trong túi quần bên phải phía trước Ngọc A đang mặc 01 hộp giấy màu xanh kích thước 02x06x15 cm bên trong chứa 03 điều cuộn màu trắng mỗi điếu dài khoảng 7cm bên trong chứa thực vật khô (mẫu QT1); 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax (có sim số 0911673119) đã qua sử dụng.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Ngọc A khai nhận: Khoảng 16 giờ 30 ngày 05/01/2024, Ngọc A gọi điện thông qua ứng dụng Messenger cho Phạm Văn T hỏi mua 05 điếu ma túy cần sa với giá 500.000 đồng. Ngọc A đã sử dụng 02 điếu còn 03 điếu chưa kịp sử dụng thì bị Công an quận N phát hiện thu giữ. Ngọc A còn khai, trước đó vào ngày 03/01/2024, đã mua một điếu ma túy Cần sa với giá 100.000 đồng và ngày 04/01/2024, mua 02 điếu ma túy Cần sa với giá 200.000 đồng của T. Cả 03 lần mua ma túy của T, Ngọc A đều chuyển khoản của Ngọc A (số A) tại Ngân hàng T2 vào tài khoản của T (số A) của T tại Ngân hàng T2.
Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn T, cơ quan điều tra đã phát hiện, thu giữ của Phạm Văn T:
- 01 túi đeo chéo bên trong đựng 10 điếu cuộn màu trắng kích thước mỗi điếu 07 cm, bên trong đều chứa thực vật khô vụn (mẫu KC1).
- 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax đã qua sử dụng (có sim số 0799771994).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 15AA-316.19.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn T tại số A D, phường D, quận L, Hải Phòng, thu giữ 01 kéo kim loại tại tủ đầu giường phòng ngủ tầng 2, thu giữ nhiều cục thực vật khô (mẫu KX1) trong nhà vệ sinh tại phòng ngủ tầng 2.
Tại Kết luận giám định số 28/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:
Thực vật khô vụn của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,76 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa)
Thực vật khô vụn của mẫu KC1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 2,39 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cây Cần sa)
Các cục thực vật của mẫu KX1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 35,60 gam, loại: Cần sa (bông hoa cây Cần sa).
Kết quả xét nghiệm nước tiểu vào ngày 07/01/2024 của Nguyễn Ngọc A và Phạm Văn T đều dương tính với ma túy Cần sa.
Kiểm tra dữ liệu điện thoại của Ngọc A và T thể hiện: Có các tin nhắn, cuộc gọi và thông báo giao dịch liên quan đến hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra Phạm Văn T khai nhận: Do không có thu nhập ổn định nên khoảng tháng 12 năm 2023, T nảy sinh ý định mua ma túy cần sa về bán lại kiếm lời. Ngày 29/12/2023, T lên mạng nhắn tin qua ứng dụng Telegram cho một tài khoản có tên "Ông bụt 420" hỏi mua 03 (ba) hoa ma túy cần sa thì được báo giá là 2.300.000 đồng một hoa, tổng 03 "hoa" là 6.900.000 đồng và được người bán cung cấp số tài khoản yêu cầu trả tiền trước qua tài khoản ngân hàng. T đồng ý ra quán nước ở đường L (T không nhớ cụ thể địa chỉ) nhờ một người đàn ông (không rõ địa chỉ lai lịch) chuyển hộ số tiền 6.900.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của người bán ma túy cung cấp, sau đó T gửi lại bằng tiền mặt. Khoảng 03 ngày sau, T nhận được đơn hàng bọc trong túi nilon dạng túi chè khô trong có chứa các cục thực vật khô là ma túy cần sa. Mua được ma túy, T mang về nhà tại địa chỉ số A D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng (T ở một mình) cất giấu vào trong tủ lạnh. Sau đó T lấy 01 hoa ma túy Cần sa dùng kéo cắt nhỏ cuốn thành 40 điếu cuộn màu trắng mỗi điếu dài khoảng 07cm với ý định bán với giá 100.000 đồng một điếu. Bản thân T đã bán ma túy cho nhiều người nhưng T không nhớ cụ thể, chỉ nhớ bán 03 lần ma túy cho Ngọc A cụ thể vào ngày 03/01/2024 là 01 điếu, ngày 04/01/2024 là 02 và ngày 05/01/2024 là 05 điếu ma túy cần sa với giá 100.000 đồng/điếu.
Tại Cáo trạng số 150/CT-VKSNQ ngày 17 tháng 6 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 09 năm đến 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 28MT/PC09 bên trong chứa 0,44 gam ma túy Cần sa còn lại mẫu QT1; 1,83 gam ma túy Cần sa còn lại mẫu KC1; 32,97 gam ma túy Cần sa mẫu KX1; 01 hộp giấy màu xanh kích thước 2x6x15 cm; 01 túi đeo chéo của Phạm Văn T; 01 kéo kim loại.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 02 điện thoại di động có gắn sim gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc A; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax đã qua sử dụng của Phạm Văn T.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 03 đến ngày 05/01/2024 tại khu vực ngõ G L, N, Hải Phòng, Phạm Văn T đã 03 lần có hành vi bán trái phép ma túy Cần sa cho Nguyễn Ngọc A, khối lượng ma túy thu giữ được là 38,75 gam ma túy Cần sa, trong đó: Ngày 03/01/2024, bán 01 điếu giá 100.000 đồng; ngày 04/01/2024, bán 02 điếu ma túy cần sa với giá 200.000 đồng và ngày 05/01/2024, bán 05 điếu cần sa với giá 500.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo đã 03 lần có hành vi bán trái phép ma túy Cần sa. Như vậy, bị cáo Phạm Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b “phạm tội 02 lần trở lên”.
[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bà nội của bị cáo tham gia thanh niên xung phong nên bị cáo Phạm Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, vì vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[8] Theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo nghề nghiệp tự do, không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; còn đối với 01 hộp giấy màu xanh kích thước 2x6x15 cm; 01 túi đeo chéo của Phạm Văn T; 01 kéo kim loại là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[10] Đối với 02 điện thoại di động có gắn sim gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc A; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax đã qua sử dụng của Phạm Văn T. Kiểm tra dữ liệu điện thoại của Ngọc A và T thể hiện: Có các tin nhắn, cuộc gọi và thông báo giao dịch liên quan đến hành vi Mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Về án phí:
[11] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác:
[12] Đối với đối tượng bán ma túy cho Phạm Văn T qua mạng Telegram, sau khi giao dịch xong T đã xóa hết ứng dụng và lịch sử giao dịch, Cơ quan điều tra chưa xác định được căn cước, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
[13] Đối với xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 15 AA-316.39 đã qua sử dụng, giám định số khung, số máy của xe là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, sửa chữa. Kết quả xác minh chủ xe là Phạm Tuấn A1 (sinh năm: 1992, Nơi cư trú: Số C G L, Phan Bội C, Hồ N, Hải Phòng). Do có quan hệ bạn bè nên ngày 06/01/2024, T đã mượn chiếc xe trên của anh Tuấn A1 nói đi có việc, T sử dụng xe mô tô đi bán ma túy anh Tuấn A1 không biết. Vì vậy, Cơ quan điều tra Công an quận N đã trả xe cho anh Tuấn A1. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý của cơ quan điều tra Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.
[12] Đối với Nguyễn Ngọc A có hành vi cất giữ trái phép 0,76 gam ma túy Cần sa mục đích sử dụng cho bản thân. Kết quả xác minh Ngọc A chưa có tiền án, tiền sự nên Công an quận N đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 82/QĐ-XPHC ngày 21/4/2024. Hội đồng xét xử xét thấy việc xử lý của cơ quan điều tra Công an quận N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 01 năm 2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì niêm phong số 28MT/PC09 bên trong chứa 0,44 gam ma túy Cần sa còn lại mẫu QT1; 1,83 gam ma túy Cần sa còn lại mẫu KC1; 32,97 gam ma túy Cần sa mẫu KX1; 01 hộp giấy màu xanh kích thước 2x6x15 cm; 01 túi đeo chéo của Phạm Văn T; 01 kéo kim loại.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 02 điện thoại di động có gắn sim gồm: 01 điện thoại Iphone 12 Promax đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng của Nguyễn Ngọc A; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng của Phạm Văn T.
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành dân sự quận N, thành phố Hải Phòng)
- Về án phí:
Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 164/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử trực tuyến
