Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 164/2024/HS-PT

Ngày: 18 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Đức

Bà Nguyễn Thị Bích Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 161/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thái Bảo L và Trương Ngọc H, do có kháng cáo của các bị cáo với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 120/2024/HS-ST ngày 10-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thái Bảo L, sinh năm: 2000 tại: Lâm Đồng. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số 15/4 thôn A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Thái S, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03-10-2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trương Ngọc H, sinh năm: 2002 tại: Lâm Đồng. Nơi đăng ký thường trú: Số A thôn A, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nơi ở hiện tại: Xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Nguyên N (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03-10-2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án này còn có 01 bị cáo khác là Nguyễn Thành K; bị hại Chu Quang T2; 04 người liên quan nhưng không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 giờ ngày 07-05-2023, Trương Ngọc H ngồi nhậu tại quán Ốc 84, địa chỉ: Số H đường T, thị trấn L, huyện Đ cùng với Nguyễn Thái Bảo L và Huy L1, Gia B, H1 (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) thì có mâu thuẫn với nhóm Chu Quang T2, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số A H, thị trấn L, huyện Đ ngồi bàn bên cạnh cùng với Trần Huỳnh Ngọc N1, sinh năm 2002; nơi cư trú: T, thị trấn L, huyện Đ; Đinh Thanh B1, sinh năm 1996, nơi cư trú: Thị trấn L, huyện Đ; H, Ngọc V, D (Chưa rõ nhân thân, lai lịch). Khi đó thì nhóm Chu Quang T2 có mã tấu (D mang tới) nên hù dọa nhóm của Trương Ngọc H, vậy nên H gọi điện thoại cho Nguyễn Thành K và Song Hoàng Vĩnh Q đến để giải quyết mâu thuẫn, nhằm đưa H về. Khi K và Q lên tới, Q có dắt H vô bếp của quán để gặp Chu Quang T2 là người trực tiếp cầm dao đòi chém H. Khi đó T2 cầm mã tấu dài khoảng 70cm đòi chém H thì mọi người can ngăn và đi ra ngoài, khi ra ngoài T2 tiếp tục chửi bới và đòi chém K. Khi đó H và Q mỗi người lấy 01 dao thái lan (Tại bếp của quán) cầm trên tay đi ra với mục đích khi xảy ra đánh nhau sẽ sử dụng. Khi H và Q đi ra thì thấy T2 vẫn đang chửi, cầm mã tấu lao vào hù chém K thì bị K đấm 01 cái vào mặt khiến T2 ngã xuống. Đồng thời lúc đó Q, H cầm dao lao vào đâm, đá, đấm vào người Chu Quang T2; Nguyễn Thái Bảo L cầm 01 dao tự chế lấy tại cửa nhà vệ sinh của quán lao vào chém nhiều nhát gây thương tích cho Chu Quang T2. Sau đó Chu Quang T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L.

Thời điểm xảy ra sự việc lao vào đâm, chém gây thương tích cho Chu Quang T2 thì Trương Ngọc H lao vào đá trúng dao của Nguyễn Thái Bảo L nên bị thương tích ở chân phải nên cũng đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L.

Tại Kết luận giám định thương tích số 320/23 –KLTTCT – PYLÐ ngày 30-6-2023 của Trung tâm P kết luận tỷ lệ thương tích của Chu Quang T2 là 16%, tổn thương do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Kết luận giám định thương tích số 393/23 –KLTTCT – PYLĐ ngày 04-08-2023 của Trung tâm P kết luận tỷ lệ thương tích của Trương Ngọc H là 13%, tổn thương do vật sắc nhọn gây ra.

Về vật chứng: Hung khí mà Trương Ngọc H, Song Hoàng Vĩnh Q1, Nguyễn Thái Bảo L gây thương tích cho T2 hiện không thu hồi được.

01 (Một) xe máy hiệu Honda Sonic màu đỏ đen Biển số: 49E1 – 99623 là xe máy của Chu Quang T2 sử dụng làm phương tiện, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu.

01 (Một) vỏ đựng dao dài 60cm (Là vỏ dao của Chu Quang T2), 01 con dao thái lan hiệu Kiwi dài 19cm, phần cán bằng nhựa màu đen dài 9cm, phần lưỡi bằng kim loại sắc nhọn dài 10cm là con dao K mang theo khi có mặt tại quán ốc 84, K tự nguyện giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ hiện đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Chu Thiện đã được các bị cáo khắc phục thiệt hại về sức khỏe, T2 có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 113/CT-VKSĐT ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã truy tố các bị cáo Song Hoàng Vĩnh Q1, Trương Ngọc H, Nguyễn Thái Bảo L và Nguyễn Thành K về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 120/2024/HS-ST ngày 10-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng đã:

Tuyên bố các bị cáo Trương Ngọc H, Song Hoàng Vĩnh Q1, Nguyễn Thái Bảo L, Nguyễn Thành K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Ngọc H. Xử phạt bị cáo Trương Ngọc H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 03-10-2023)

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Song Hoàng Vĩnh Q1. Xử phạt bị cáo Song Hoàng Vĩnh Q1 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 03-10-2023)

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thái Bảo L. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Bảo L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 03-10-2023)

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành K. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành K 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 26-4-2024)

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày 24-7-2024, các bị cáo Song Hoàng Vĩnh Q1, Trương Ngọc H, Nguyễn Thái Bảo L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Song Hoàng Vĩnh Q1 có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, 02 bị cáo Trương Ngọc H, Nguyễn Thái Bảo L giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xử phạt các bị cáo mức án phù hợp; các bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[3] Về thủ tục tố tụng: Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Song Hoàng Vĩnh Q1 rút toàn bộ kháng cáo; kháng cáo của bị cáo không liên quan đến kháng cáo của các bị cáo khác nên Tòa án đã ban hành quyết định đình chỉ xử phúc thẩm đối với bị cáo Song Hoàng Vĩnh Q1. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không đề cập tại phần quyết định.

[4] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, 02 bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì thêm đối với hành vi, hoạt động tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm; bị cáo khai và thừa nhận diễn biến hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập. Lời khai của 02 bị cáo thống nhất với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác nên đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 01 giờ 30 giờ sáng ngày 07-05-2023, tại quán Ố, địa chỉ: Số H đường T, thị trấn L, huyện Đ. Xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhóm của Trương Ngọc H với nhóm Chu Quang T2 trong lúc ăn nhậu; các bị cáo gồm Song Hoàng Vĩnh Q1, Trương Ngọc H, Nguyễn Thái Bảo L và Nguyễn Thành K đã sử dụng dao là hung khí nguy hiểm tấn công và gây thương tích cho Chu Quang T2 với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo Kết luận giám định là 16%, tổn thương do vật sắc nhọn gây ra.

Các bị cáo đều trưởng thành, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, nghiêm cấm xâm hại nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tấn công gây thương tích cho bị hại Chu Quang T2 như nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự; khi gây thương tích cho bị hại các bị cáo sử dụng dao là hung khí nguy hiểm nên cấp sơ thẩm kết án các bị cáo thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội danh.

[5] Về hình phạt và kháng cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội nghiêm trọng, không những xâm hại đến khách thể là sức khỏe của người khác mà còn gây mất an ninh, trị an tại địa bàn. Cấp sơ thẩm sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đánh giá quá trình điều tra các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng cho các bị cáo cùng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ, đúng quy định. Cấp sơ thẩm đã phân hóa vai trò tội phạm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong vụ án đồng phạm, xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Bảo L 36 tháng tù; Trương Ngọc H 30 tháng tù là nghiêm, đảm bảo công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn.

Xét kháng cáo của bị cáo Trương Ngọc H, Nguyễn Thái Bảo L thì thấy rằng: 02 bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo nhưng không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, các tình tiết giảm nhẹ đối với hai bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét và áp dụng đầy đủ; như phân tích thì mức án đã áp dụng đối với 02 bị cáo là phù hợp nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của 02 bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phúc thẩm.

[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên 02 bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trương Ngọc H, Nguyễn Thái Bảo L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng.

Tuyên xử:

1. Về tội phạm và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thái Bảo L, Trương Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Ngọc H. Xử phạt bị cáo Trương Ngọc H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 03-10-2023)

1.2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thái Bảo L. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Bảo L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 03-10-2023)

2. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Ngọc H, Nguyễn Thái Bảo L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - Phòng KTNV&THA (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - TAND huyện Đức Trọng (02);
  • - VKSND huyện Đức Trọng (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Đức Trọng (01);
  • - Cơ quan THAHS huyện Đức Trọng (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Nhà tạm giữ (01); Bị cáo (01);
  • - Bị hại (01);
  • - Hồ sơ THAHS (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 164/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger