Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 164/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/9/2024.

V/v “Tranh chấp hôn nhân

và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh

Ông Lê Hữu Tới

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 66/2024/HNGĐ-ST ngày 24/4/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 137/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/8/2024, quyết định hoãn số 121/2024/QĐ-ST ngày 11/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị B, sinh năm 1988

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở hiện nay: Số nhà B, tầng A, tổ A, huyện T, Singapore

- Bị đơn: Anh Lê Văn G, sinh năm 1980

Địa chỉ: Đ thôn K, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện sống ở: Trung Quốc

Tại phiên tòa chị B và anh G đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Hồ Thị B trình bày:

Về hôn nhân: Tôi và anh Lê Văn G tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa số 89/2008 ngày 01/12/2008. Sau khi kết hôn chúng tôi cùng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến tháng 7 năm 2022 thì tôi sang Singapore làm việc thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng quan điểm, không có tiến nói chung. Kể từ đó chúng tôi không còn quan tâm đến nhau, không có liên lạc với nhau nữa. Mặc dù tôi và gia đình đã cố gắng hòa giải nhưng không thành, nay tôi thấy tình cảm vợ chồng đã hết đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh G để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Khánh H, sinh ngày 08/02/2008 và cháu Lê Văn B1 sinh ngày 24/6/2016. Sau khi tôi đi nước ngoài các cháu đều đang ở với anh Lê Văn G.

Tại thời điểm chi Hồ Thị B làm đơn khởi kiện cho đến nay các cháu vẫn đang ở với anh G nên chị B đề nghị giao cả 2 con cho anh G tiếp tục được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 2 cháu HB1. Chị B có nguyện vọng cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 4.000.000đ cho cả hai cháu.

Về tài sản và công nợ chung: Chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị B trình bày ngày 24/4/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thụ lý vụ án của chị lúc đó anh G đang ở đội 7 thôn K, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Đến ngày 03/5/2024 thì anh G xuất cảnh, theo gia đình anh G cho biết anh G đi làm ăn ở Trung Quốc, không cho chị biết địa chỉ, tôi và anh G không có liên lạc từ lâu nên không biết được địa chỉ của anh G ở Trung Quốc nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh G đi vài tháng lại về vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ kế là bà Nguyễn Thị H1 và cô ruột là bà Lê Thị T địa chỉ tại đội G, thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Chị B đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ những người này.

* Tại các buổi xác minh tại gia đình bà Nguyễn Thị H1, Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà.

* Tại các biên bản lấy lời khai bà H1 trình bày:

Bà là mẹ kế của anh Lê Văn G và mẹ chông của chị Hồ Thị B, anh Lê Văn G có bố đẻ là ông Lê Văn N chết năm 2013 và mẹ đẻ là bà C hiện còn sống nhưng đã bỏ đi máy chục năm nên bà ở đâu. Năm 1990 bà lấy ông N về sóng cùng ông và anh G ở đây. Anh G và chị B cưới nhau ở Trung Quốc sau đó về Việt Nam đăng ký kết hôn, vợ chồng thường xuyên đi làm ăn xa, thỉnh thoảng về thăm ông, bà nên mâu thuẫn bà không biết và bà không biết địa chỉ của anh G. Về ly hôn giữa anh G và chị B bà không có ý kiến gì việc của anh chị.

* Bản tự khai của bà Lê Thị Thế l cô ruột của anh Lê Văn G trình bày:

Bà là cô ruột của anh G hiện cháu Lê Văn B1 đang ở sinh sống cùng với bà, anh G đi làm khoảng vài tháng thì anh G về qua nhà và ở với bà, vào khoảng đầu tháng 5/2024 thì anh G có đi Trung Quốc làm ăn, bà không biết địa chỉ, chỉ liên lạc quan Z và mạng xã hội, bà đồng ý nhận giấy tờ và có trách nhiệm thông báo cho anh G, còn về ly hôn giữa anh, chị bà không liên quan.

* Ngày 10/6/2024 Tòa án có nhận được đơn trình bày ghi tên là Lê Văn G đánh máy về việc tạm thời chưa giải quyết ly hôn, chưa chấp thuận xét xử ly hôn.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, 37 BLTTDS và công văn 253 ngày 26/11/2018 của TAND tối cao. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị B, xử cho chị Hồ Thị B được ly hôn với anh Lê Văn G; Giao cả 2 cháu Lê Khánh H, sinh ngày 08/02/2008 và cháu Lê Văn B1 sinh ngày 24/6/2016 cho anh Lê Văn G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hồ Thị B cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng là 4.000.000đ cho cả hai cháu HB1 kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản và công nợ chung: Chị Hồ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Hồ Thị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền: Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày hiện tại bị đơn anh Lê Văn G đang sinh sống Đội 7 thôn K, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 24/4/2024 Tòa án thụ lý vụ án thì anh G xuất ngoại đi làm ăn tại Trung Quốc. Tại công văn số: 15575/QLXNC-P3 ngày 18/01/2024 của Cục Q - Bộ C1 cung cấp thông tin cho Tòa án xác định anh Lê Văn G, sinh ngày 10/11/1980 đã xuất cảnh lần cuối ngày 03/5/2024. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Chị Hồ Thị B chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Lê Văn G ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh G tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng mẹ kế và cô ruột của anh G trình bày không biết địa chỉ anh G ở Trung Quốc. Tuy nhiên gia đình vẫn nắm bắt thông tin qua mạng xã hội với anh G ở nước ngoài vài tháng anh G lại về ở cùng gia đình rồi lại đi làm ăn xa nên cô ruột của anh G là bà T đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh G, vì vậy Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn có tình giấu địa chỉ.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Hồ Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn Lê Văn G vắng mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị B và anh G.

[2]. Xét nội dung khởi kiện của chị Hồ Thị B:

[2.1]. Về hôn nhân: Chị Hồ Thị B và anh Lê Văn g kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có Giấy đăng ký kết hôn số 89/2008 ngày 01/12/2008 do UBND xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp, là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, đến tháng 7 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn và từ đó chị B và anh G đã bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm nhau, không còn tình cảm và đã sống ly thân cho đến nay. Naychị B thấy tình cảm vợ chồng đã hết đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B xin được ly hôn với anh G để sớm ổn định cuộc sống.

Xét thấy, cuộc sống chung của chị B và anh G không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân là cùng tạo lập, xây dựng cuộc sống chung không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị B, cho chị Hồ Thị B được ly hôn anh Lê Văn G là phù hợp.

[2.2]. Về con chung: Chị Hồ Thị B và anh Lê Văn g có hai con chung là cháu Lê Khánh H, sinh ngày 08/02/2008 và cháu Lê Văn B1 sinh ngày 24/6/2016. Nguyện vọng của chị B giao lại 2 cháu HB1 cho anh G tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai cháu HB1. Chị B tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng là 4.000.000đ cho cả hai cháu HB1 kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Tòa án nhận được đơn trình bày ghi tên là Lê Văn G đánh máy ngày 10/6/2024 qua đường bưu điện, nhưng qua kiểm tra thì không phải chữ ký của anh G, không được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền theo trình tự tố tụng nên không có căn cứ để xem xét.

Xét thấy hiện tại chị B đang làm việc tại Singapore, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu HB1 nên chị tự nguyện giao cả hai cháu cho anh G hiện đang trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả 2 cháu. Đây cũng là nguyện vọng của hai cháu muốn ở với bố nên giao hai cháu HB1 cho anh G tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của chị B cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng là 4.000.000đ cho cả hai cháu HB1 kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, quá trình nuôi dưỡng con chung, để bảo đảm cuộc sống cho hai cháu, khi cần thiết anh G có quyền khởi kiện yêu cầu chị B về việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung và công nợ: Chị Hồ Thị B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xét. Anh Lê Văn G không có văn bản theo đúng quy định của pháp luật, thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản và công nợ chung nên nếu sau này anh G có yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[3]. Về án phí: Chị Hồ Thị b là nguyên đơn trong vụ án ly hôn và là người cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên chị B phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, được đối trừ một phần vào tiền tạm ứng án phí mà anh Nguyễn Đức H2 đã nộp thay cho chị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5; khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hồ Thị B.

- Về hôn nhân: Chị Hồ Thị B được ly hôn với anh Lê Văn G.

- Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Lê Khánh H, sinh ngày 08/02/2008 và cháu Lê Văn B1 sinh ngày 24/6/2016 cho anh Lê Văn G tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hồ Thị B cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng là 4.000.000đ (bốn triệu đồng) cho cả hai cháu HB1 kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Chị Hồ Thị B có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về tài sản và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí: Chị Hồ Thị B phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) mà anh Nguyễn Đức H2 nộp thay cho chị theo biên lai số 0000289 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Lê Văn G và chị Hồ Thị B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND X. Hải Nhân, TX Nghi Sơn,
  • tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, tổ HCTP, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đại Long

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 164/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger