|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 164/2024/HNGD-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 Về việc Hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
- Ông Nguyễn Sỹ Quân
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 113/2024/TLST- HNGĐ ngày 05/6/2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 138/2024/QĐXX-ST ngày 04/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 76/2024/QĐ-ST ngày 19/9/2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lưu Đình Q
Trú tại: Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, Hà Tĩnh, xin vắng mặt
Bị đơn: Chị Hoàng Thị H (1991)
Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Nhật Bản, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án anh Lưu Đình Q:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị Hải Đ kết hôn vào ngày 28/11/2011 tại UBND phường Đ, Hà Tĩnh. Anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc và có 02 con chung. Năm 2018, để cải thiện kinh tế gia đình nên hai vợ chồng bàn bạc nhau để anh Q xuất khẩu lao động tại Nhật Bản còn chị H nhà chăm sóc con cái. Đến năm 2020 khi con lớn hơn thì chị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Tuy sống cùng đất nước nhưng hai vợ chồng không chung sống với nhau nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không tin tưởng nhau. Nhiều lần anh Q gặp chị H hàn gắn tình cảm nhưng chị H chối tiếp xúc với anh. Đầu năm 2021, anh Q về Việt Nam, chị H ở lại Nhật Bản từ đó hai vợ chồng ít liên lạc với nhau, không quan tâm đến nhau. Hiện tại anh nhận thấy không còn tình cảm với chị H, trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị Hoàng Thị H.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Lưu Hoàng Nhật M (2015); Lưu Hoàng Nhật L (2012). Anh Q nguyện vọng nuôi con Lưu Hoàng Nhật L giao con Lưu Hoàng Nhật M chị H sóc nuôi dưỡng, vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Lưu Đình Q trình bày không biết địa chỉ cụ thể của chị Hoàng Thị H tại Nhật Bản, đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của chị H qua gia đình chị.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại mẹ đẻ chị H là bà Lê Thị P; Địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Bà cho biết: Chị H sinh sống tại Nhật Bản và thường xuyên gọi điện về cho gia đình nhưng gia đình không biết địa chỉ của chị H không thể cung cấp cho Tòa án được. Việc anh Q xin ly hôn chị H đã biết và cũng đồng ý ly hôn, về vấn đề nuôi con chị đồng ý với ý kiến của anh Q, không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn nên đề nghị Tòa án xử vắng mặt và ủy quyền cho mẹ đẻ giao nhận các văn bản tố tụng.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273, 464, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Công văn số 253/TANDTC - PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
- - Cho anh Lưu Đình Q và chị Hoàng Thị H
- - Giao con Lưu Hoàng Nhật L anh Q sóc nuôi dưỡng; giao con Lưu Hoàng Nhật M chị H sóc nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 143; khoản 4 Điều 147; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc anh Lưu Đình Q chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị H cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh là phường Đ, thị xã H, Hà Tĩnh. Theo Công văn số 627/PA08-Đ1 ngày 02/7/2024 của Phòng PA 08 - Công an tỉnh H thì chị Hoàng Thị H cảnh năm 2019 và hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý vụ án giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Gia đình chị Hoàng Thị H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị tại Nhật Bản. Căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các vụ án có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài thì đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã đăng thông báo về việc giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình cho chị H và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Lưu Đình Q quá trình thụ lý giải quyết vụ án có mặt nhưng do điều kiện công việc đi làm ăn xa không tham gia phiên tòa được và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh Q theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Lưu Đình Q và chị Hoàng Thị Hải đăng ký kết hôn vào ngày 28/11/2011 tại UBND phường Đ tự nguyện. Việc kết hôn giữa anh Q và chị H thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Năm 2018 anh Q xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, đến năm 2020 chị H sang Nhật Bản làm việc. Tuy nhiên hai vợ chồng sinh sống hai nơi nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không tin tưởng nhau. Nhiều lần anh Q hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Đầu năm 2021, anh Q về Việt Nam, chị H ở lại Nhật Bản từ đó hai vợ chồng ít liên lạc với nhau, không quan tâm đến nhau. Anh Q nhận định không còn tình cảm với chị H và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị H.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng cuộc hôn nhân của anh Q và chị H không đạt được mục đích đó. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lưu Đình Q, xử cho anh Lưu Đình Q và chị Hoàng Thị H.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Lưu Hoàng Nhật M (2015); Lưu Hoàng Nhật L (2012). Anh Q nguyện vọng nuôi con Lưu Hoàng Nhật L giao con Lưu Hoàng Nhật M chị H sóc, nuôi dưỡng. Cháu Nhật L đơn trình bày nguyện vọng của được ở với bố, cháu Nhật M đơn xin ở với mẹ. Hiện chị H không ở Việt Nam nên mẹ đẻ chị là bà Lê Thị P tình nguyện nuôi cháu Nhật M cháu trong thời gian chị H chưa về nước. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao con Lưu Hoàng Nhật L (07/5/2012) cho anh Lưu Đình Q nuôi dưỡng; giao con Lưu Hoàng Nhật M (16/02/2015) cho chị Hoàng Thị H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm giao con Lưu Hoàng Nhật M bà ngoại là bà Lê Thị P chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị H ở nước ngoài. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết, khi nào chị H về Việt Nam và có yêu cầu giải quyết về tài sản thì sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí: Anh Lưu Đình Q nguyện chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273, 464, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Công văn số 253/TANDTC - PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lưu Đình Q
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Lưu Đình Q và chị Hoàng Thị H ly hôn.
- Về con chung: Giao con Lưu Hoàng Nhật L, sinh ngày 07/5/2012 cho anh Lưu Đình Q chăm sóc nuôi dưỡng; giao con Lưu Hoàng Nhật M, sinh ngày 16/02/2015 cho chị Hoàng Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Các bên được quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Lưu Đình Q chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000903 ngày 05/6/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Ngân |
Bản án số 164/2024/HNGD-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hôn nhân gia đình
- Số bản án: 164/2024/HNGD-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Đình Q xin ly hôn Hoàng Thị H
