Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2024/HNGĐ-PT.

Ngày: 28/11/2024.

V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Các Thẩm phán: Ông Phan Quyết Thắng; bà Bùi Thị Thu Hồng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Như Quỳnh- Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;

Mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân & Gia đình thụ lý số 143/2024/TLPT-HNGĐ ngày 31/10/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình".

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số bản án số 539/2024/HNGĐ – ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 299/2024/QĐXX-PT ngày 01/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 167/2024/QĐ-HPT ngày 18/11/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Vũ Đình S, sinh năm 1993. Nơi thường trú: LK20C – 03 khu Đ, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Địa chỉ hiện nay: Căn hộ G tòa nhà T số A hồ M, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội.

* Bị đơn: Chị Chu Viên S1, sinh năm 1993. Nơi thường trú: LK20C – 03 khu Đ, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì vụ án có nội dung:

* Nguyên đơn là anh Vũ Đình S trình bày:

Về tình cảm: Anh S và chị S1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, quận H, thành phố Hà Nội ngày 29/5/2023. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 06/2023, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2023, anh S chuyển đến ở khu C tòa nhà T, số A đường H, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội. Nay, anh S nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện, không còn khả năng đoàn tụ, xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án nhân dân quận Hà Đông giải quyết cho anh được ly hôn với chị S1.

Về con chung: Anh S xác nhận vợ chồng có 02 con chung: cháu Vũ Đình N, sinh năm 2018; cháu Vũ Đình P, sinh năm 2020. Ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi cháu P, chị S1 nuôi cháu N. Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho chị S1 5.000.000đồng/tháng. Anh không đồng ý để chị S1 nuôi 02 con chung vì anh cũng muốn được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là chị Chu Viên S1 trình bày:

Về tình cảm: Chị xác nhận thời gian kết hôn và mâu thuẫn như anh S đã trình bày. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh S đề nghị ly hôn chị nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung: cháu Vũ Đình N, sinh năm 2018; cháu Vũ Đình P, sinh năm 2020. Ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi 02 con chung. Đề nghị anh S cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đồng/tháng cho 02 con. Chị không đồng ý với nguyện vọng của anh S vì chị không tin tưởng vào việc anh S chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Trường hợp mỗi người nuôi con thì không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận. Ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án số 539/2024/HNGĐ-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Vũ Đình S. Anh Vũ Đình S được ly hôn chị Chu Viên S1.
  2. Về con chung: Anh S và chị S1 có 02 con chung: Vũ Đình N, sinh năm 2018; Vũ Đình P, sinh năm 2020. Giao cháu Vũ Đình P cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Vũ Đình N cho chị S1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thỏa thuận hoặc quyết định khác thay thế. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

    Anh S, chị S1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật, không ai được ngăn cản.

  3. Về tài sản chung (động sản bất động sản): Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Ngày 22/8/2024, bị đơn là chị Chu Viên S1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị giao cả hai con chung cho chị S1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Anh Vũ Đình S đề nghị Tòa án giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Tại cấp phúc thẩm nếu như Tòa án giao cả 02 con cho chị S1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 6.000.000 đồng/tháng cho 02 con.
  • Chị Chu Viên S1 trình bày giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo xin được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu anh S tự nguyện cấp dưỡng nuôi con thì chị cũng đồng ý. Trong trường hợp chị không được nuôi cả 02 con chung thì chị đề nghị được nuôi cháu P vì cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của chị S1 trong thời hạn, đã nộp tạm ứng án phí nên được chấp nhận.

Thẩm phán và hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật; Quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo thực hiện trước và tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự..

Về nội dung:

Anh S chị S1 kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, quận H, thành phố Hà Nội ngày 29/5/2023 nên là hôn nhân hợp pháp. Tại cấp sơ thẩm anh chị đều xác định không còn tình cảm nên thống nhất thuận tình ly hôn. Tại phần Quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Vũ Đình S. Anh Vũ Đình S được ly hôn chị Chu Viên S1 là chưa phù hợp. Cần phải sửa lại cách tuyên là Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh Vũ Đình S và chị Chu Viên S1.

Về con chung: Anh S và chị S1 có 02 con chung là cháu Vũ Đình N, sinh ngày 14/7/2018 và cháu Vũ Đình P, sinh ngày 25/01/2020. Bản án sơ thẩm giao cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vũ Đình P, chị S1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vũ Đình N. Nay chị S1 kháng cáo đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét thấy, anh S và chị S1 đều có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Tuy nhiên, hiện nay cả 02 con đều còn nhỏ và đang ở với chị S1. Vì vậy để tránh sự sáo trộn cuộc sống của các con. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo giao cả 02 con cho chị S1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận anh S tự nguyện cấp dưỡng nuôi 02 con với mức 6.000.000 đồng/tháng.

Về án phí: Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, anh S và chị S1 thuận tình ly hôn nhưng không thỏa thuận được về con chung thì các bên đương sự phải chịu 50% án phí quy định đối với yêu cầu xin ly hôn. Anh S tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm do đó anh S chỉ phải chịu 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Cần phải trả lại anh S 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng)tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về án phí phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên chị S1 không phải nộp án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[I]. Về Tố tụng:

Bị đơn là chị Chu Viên S1 có đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn nên kháng cáo là hợp lệ.

Chị Chu Viên S1 đăng ký nơi thường trú tại phường V, quận H, Thành phố Hà Nội nên Toà án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[II]. Xét nội dung kháng cáo:

Về con chung: Chị Chu Viên S1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị giao cho chị S1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Vũ Đình N và cháu Vũ Đình P. Nếu được nuôi cả hai con chung, chị S1 không yêu cầu anh S đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp nếu chỉ được nuôi 01 con thì chị xin nuôi cháu P vì cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc nhiều hơn của người mẹ.

Hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thể hiện: Chị Chu Viên S1 là nhân viên ngân hàng TMCP S2 (S3), thu nhập trung bình cả lương cứng và phụ cấp + thưởng theo chị S1 trình bày khoảng 40 triệu đồng/tháng; hiện chị S1 ở cùng với mẹ đẻ tại phường V, quận H, Hà Nội. Anh Vũ Đình S là nhân viên ngân hàng TMCP N2 (V), thu nhập trung bình cả lương cứng và phụ cấp + thưởng theo anh S trình bày khoảng 50 triệu đồng/tháng; Hiện anh S đang ở nhà của bố đẻ ở Căn hộ G tòa nhà T số A hồ M, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội.

Xét thấy: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ các bên đương sự cung cấp thể hiện việc thu nhập hàng và điều kiện chăm sóc con chung, thì anh Vũ Đình S và chị Chu Viên S1 đều có đủ kiện kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Việc quyết định người trực tiếp nuôi con cần căn cứ và điều kiện, hoàn cảnh thực tế, đảm bảo sự phát triển của con. Anh S và chị S1 đều có đủ điều kiện nuôi con và có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con. Căn cứ quy định tại các Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì Toà án cấp sơ thẩm quyết định giao anh S và chị S1 mỗi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng một con chung là phù hợp.

Xét kháng cáo của chị Chu Viên S1: Chị S1 có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, nếu chỉ được nuôi 01 con chị xin nuôi cháu P. Bản án sơ thẩm giao cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Đình N1, giao cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Đình P1. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu N1 đã hơn 6 tuổi, cháu P1 mới hơn 4 tuổi. Do vậy cháu P1 còn nhỏ cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ nên cần thiết phải sửa một phần bản án sơ thẩm về con chung theo hướng giao cháu Chu Đình P1 cho chị Chu Viên S1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Chu Đình N1 cho an S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị S1 và anh S mỗi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng một con chung, nên không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về ý kiến của Viện kiểm sát: Anh Vũ Đình S đơn phương nộp đơn xin ly hôn, chị S1 đồng ý yêu cầu xin ly hôn của anh S nhưng anh chị chỉ thuận tình ly hôn, không yêu cầu giải quyết về tài sản nhưng không thỏa thuận được việc ai là người trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con nên chưa đáp ứng đủ căn cứ theo Điều 55 Luật Hôn nhan gia đình để Tòa án công nhận thuận tình ly hôn mà Tòa án vẫn phải giải quyết việc ly hôn. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh S theo Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về con chung: Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị giao cả 02 con cho chị S1 không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Trước khi mở phiên tòa anh S, chị S1 thuận tình ly hôn nhưng không thỏa thuận được về con chung nên căn cứ theo khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024, anh S tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng(Một trăm năm mươi nghìn đồng). Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát sửa án sơ thẩm về mức án phí anh S phải chịu.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo có hiệu lực pháp luật.

[III]. Về án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, nên chị Chu Viên S1 không phải chịu tiền án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 308 và Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Chu Viên S1. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 539/2024/HNGĐ-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội về phần con chung. Cụ thể:

    Về con chung: Anh Vũ Đình S và chị Chu Viên S1 có 02 con chung: Vũ Đình N, sinh ngày 14/7/ 2018; cháu Vũ Đình P, sinh ngày 25/01/2020. Giao cháu Vũ Đình N cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Vũ Đình P cho chị S1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thỏa thuận hoặc quyết định khác thay thế.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Vũ Đình S và chị Chu Viên S1 không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

    Anh S, chị S1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật, không ai được ngăn cản.

  2. Về án phí:

    Anh Vũ Đình S phải chịu 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Đối trừ với số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014959 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Hoàn trả lại anh S 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

    Chị Chu Viên S1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm. Trả lại chị S1 số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0044142 ngày 22/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - TAND quận Hà Đông, Hà Nội;
  • - CC THADS quận Hà Đông, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2024/HNGĐ-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 164/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Đình S - Chu Viên S1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger