|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 164/2024/DS-PT
Ngày: 20-9-2024
V/v tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái, bà Phạm Phong Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương và bà Hoàng Thị Thu Vân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 về việc: “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: ông Huỳnh Thiện Đ, sinh năm 1979. (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Phạm Xuân D, sinh năm 1971. Địa chỉ: thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
-
Bị đơn: Bà Lục Thị T, sinh năm 1956 (có mặt)
Địa chỉ: thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Trung H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Hà Minh T1, sinh năm 1959. (có mặt)
- - Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1940. (có mặt)
Địa chỉ: thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của ông Phạm Xuân D và ông Hà Minh T1: ông Lê Hữu T2 – Luật sư thuộc Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hãng luật ROMA. Địa chỉ: 5 Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
-
Người làm chứng:
- - Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1967 (có mặt)
- - Ông Huỳnh Văn T4, sinh năm 1956 (vắng mặt)
- - Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1970 (có mặt)
- - Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1973 (có mặt)
- - Bà Đào Thị Bích L1, sinh năm 1976 (có mặt)
Cùng địa chỉ: thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
-
Người kháng cáo: Bà Lục Thị T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Bản án sơ thẩm:
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông Phạm Xuân D là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện Đ trình bày:
Năm 2018, ông Huỳnh Thiện Đ có nhận chuyển nhượng từ bà Huỳnh Thị M thửa đất số 728, tờ bản đồ số 07, diện tích 1.204m² đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 606738 ngày 05/06/2006 đứng tên hộ bà Nguyễn Thị Đ1, đăng ký biến động tặng cho bà Huỳnh Thị M ngày 02/10/2015. Vị trí thửa đất có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất bà Lục Thị T; phía Tây giáp đường giao thông nông thôn; phía Nam giáp đất bà Huỳnh Thị L; phía Bắc giáp đất ông Đào Văn M1.
Năm 2022, ông Huỳnh Thiện Đ chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Hà Minh T1, khi ông Huỳnh Thiện Đ làm thủ tục sang tên thì bà Lục Thị T vô cớ tranh chấp và cho rằng thửa đất của ông Huỳnh Thiện Đ và bà Nguyễn Thị Đ1 có 01 lối đi (3x30m) ra đất phía sau là đất bà T. Theo ông Huỳnh Thiện Đ được biết trước đây năm 2016 khi nhận giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Huỳnh Thị M thì bà Lục Thị T cũng đã khiếu nại vấn đề con đường này và bà Lục Thị T cũng đã sử dụng con đường khác để làm lối đi. Tuy nhiên, không biết lý do vì sao bà T lại tiếp tục khiếu nại tranh chấp lại lối đi này mặc dù đối chiếu trên giấy chứng nhận giữa đất của ông Huỳnh Thiện Đ (thừa 728) và thửa đất của bà Huỳnh Thị L (thửa 729) không thể hiện thông tin gì về lối đi ra phía sau nhà bà T, nhưng bà T vẫn cứ khiếu nại hết lần này đến lần khác, thậm chí ngăn cản việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Thiện Đ cho người khác và làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Huỳnh Thiện Đ. Ông Huỳnh Thiện Đ khởi kiện yêu cầu bà Lục Thị T chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Thiện Đ đối với thửa đất số 728, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại thôn D xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 606738.
Hiện nay từ ngoài đường vào đất bà T đã có con đường hiện hữu là do bà Đào Thị Bích L1 bỏ tiền ra mua lại từ vợ chồng bà Huỳnh Thị L, chính là phần diện tích 73,3m² tại các điểm tọa độ 1, 2, 3, 4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 về mốc 1 thể hiện tại mảnh trích đo địa chính số 68-2023 ngày 08/11/2023 do Ủy ban nhân dân H cung cấp, có bề ngang 3m, với giá 30.000.000 đồng, đề nghị bà T thỏa thuận với bà Đào Thị Bích L1 và cùng chịu chi phí với bà L1.
Đối với phần diện tích 34,4m² tại các điểm tọa độ 6, 7, 8 về mốc số 6 thể hiện tại mảnh trích đo địa chính số 68-2023 ngày 08/11/2023 do Ủy ban nhân dân H cung cấp, đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng cho ông Huỳnh Thiện Đ đối với phần diện tích đất này.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn bà Lục Thị T trình bày:
Bà không có quen biết gì với ông Huỳnh Thiện Đ, bà biết ông Huỳnh Thiện Đ nhận chuyển nhượng thửa đất của bà Nguyễn Thị Đ1 trước mặt thửa ruộng nhà bà. Hiện nay trên thửa đất có nhà của bà Nguyễn Thị Đ1 và nhà của con gái bà Đ1, có thanh long của gia đình bà Đ1.
Đất nhà bà Đ1 (nay chuyển cho ông Huỳnh Thiện Đ) là thửa đất 728 tờ bản đồ số 07 và đất bà Huỳnh Thị L - con gái bà Nguyễn Thị Đ1 (là thửa đất 729 tờ bản đồ số 07) đều ở bên ngoài và giáp đường, ngày xưa ranh giới giữa 2 thửa đất này có một con đường bờ mương. Con mương này của Nhà nước dẫn nước vào các thửa ruộng bên trong, sau này các hộ dân bên trong không trồng lúa nữa mà trồng thanh long, nên không còn nhu cầu dẫn nước vào.
Từ sau năm 1982 (bà không nhớ rõ) gia đình bà có đổ đất lấp con mương trên để làm con đường đi vào bên trong. Sau đó các hộ dân khác bên trong cũng sử dụng con đường này.
Kích thước của con đường (lấp từ con mương) bề ngang của con mương khoảng 1m, tổng cộng con đường bề ngang khoảng 3m, nối từ đường nhựa (thôn D xã H) nằm giữa ranh đất nhà bà Nguyễn Thị Đ1 (nay chuyển cho ông Huỳnh Thiện Đ)và bà Huỳnh Thị L, nối đi vào bên trong.
Ngoài con đường đất nằm trên ranh đất nhà bà Đ1, không còn con đường nào khác để gia đình bà đi ra đường chính.
Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc bà chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Thiện Đ đối với thửa đất số 728. Hiện nay con đường đang hiện hữu là do bà Đào Thị Bích L1 bỏ tiền ra mua lại từ vợ chồng bà Huỳnh Thị L, có bề ngang 3m không phải là con đường mà bà đã mở trước đây nên bà không đồng ý đi lại trên con đường này.
Bà đề nghị khôi phục lại con đường đi mà bà đã làm trên đất nhà bà Đ1 (là thửa đất số 728), bà không đồng ý chịu chi phí cho nhà bà Đ1 hoặc ông Huỳnh Thiện Đ.
Bà không đồng ý đi lại trên con đường là phần diện tích 73,3m² tại các điểm tọa độ 1, 2, 3, 4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 về mốc 1 thể hiện tại mảnh trích đo địa chính số 68-2023 ngày 08/11/2023. Con đường này do bà Đào Thị Bích L1 mua của nhà bà Huỳnh Thị L trước kia (thửa đất 729).
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hà Minh T1 trình bày:
ông là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 728 từ ông Huỳnh Thiện Đ. Do bà Lục Thị T cứ nộp đơn ngăn chặn và tranh chấp đòi mở lối đi trên đất, nên chưa thể sang tên cho ông theo quy định pháp luật, như vậy là có hành vi cản trở người khác thực hiện quyền sử dụng đất. Ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu Tòa án buộc bà Lục Thị T chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Thiện Đ đối với thửa đất số 728, yêu cầu Tòa án công nhận cho ông Huỳnh Thiện Đ đối với phần diện tích 34,4m² tại các điểm tọa độ 6, 7, 8 về mốc số 6 thể hiện tại mảnh trích đo địa chính số 68-2023 ngày 08/11/2023 do Ủy ban nhân dân H cung cấp.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, người làm chứng Phạm Văn T3 trình bày:
Ông sống tại địa phương từ năm 1978 đến nay, trước đây tại vị trí mà bà Lục Thị T đòi mở đường thì có 1 bờ ruộng, đây là ranh đất của đất nhà bà Đ1 và bà Huỳnh Thị L - con gái bà Đ1, bờ ruộng ở phía trên cao nằm trong đất nhà bà Đ1, còn đất bà Huỳnh Thị L giáp ranh nhưng thấp hơn. Những người có đất ở bên trong thường sử dụng con đường bờ này để đi từ ngoài đường vào đất, bề rộng lối đi rất nhỏ, chỉ đủ cho 1 xe máy đi, xe ô tô không đi được. Khi những người bên trong trồng lúa thì có xin làm 1 đường mương nhỏ nằm bên cạnh đường bờ ruộng này để dẫn nước từ ngoài đường vào bên trong, sau này khi họ không còn trồng lúa nữa thì con mương này bị lấp lại. Con mương này chỉ rộng khoảng nửa mét hoặc hơn 1 chút, nằm ở phần đất bà L dưới thấp. Thời điểm trước đây thì đất trống chỗ nào người dân đi ngang qua chỗ đó.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, người làm chứng Huỳnh Văn H1 trình bày:
Ông sinh sống tại địa phương từ năm 1975 đến nay, ông làm trưởng thôn Dân Thuận từ năm 2008 đến năm 2019, phần đất tranh chấp là từ thời điểm bà Lục Thị T tranh chấp với bà Nguyễn Thị Đ1 vào năm 2016, sau đó không thấy tranh chấp gì. Rồi sau đó bà Nguyễn Thị Đ1 sang tên cho ông Huỳnh Thiện Đ nhưng gia đình bà Đ1 vẫn ở đó.
Trước đây, thửa đất của bà Đ1, bà L, bà T đều là ruộng lúa, ranh giới giữa các thửa ruộng là bờ đất đắp cao lên để giữ nước, người dân đi lại cũng đi trên bờ ruộng này. Phần đất mà bà Lục Thị T đòi mở đường trước đây chính là bờ ruộng này, nằm ở ranh đất nhà bà Đ1 và bà L, bờ ruộng này rất nhỏ chỉ đủ người đi bộ. Ông nhớ đoạn này có 1 khoảng thời gian (2-3năm) thì người làm ruộng phía trong và chủ đất thương lượng xin đào được 1 đường mương nhỏ (bề ngang khoảng 20cm) để dẫn nước vào ruộng, sau đó Nhà nước tạo đường mương lớn thì không ai sử dụng đường mương nhỏ này nữa và đã bị lấp lại nhưng đây vẫn là bờ ruộng.
Thời đó địa thế đất nhà bà Đ1 khá cao bờ ruộng thuộc đất bà Đ1, con mương này dưới thấp nằm trong phần đất của bà Huỳnh Thị Lệ .
Phần đất đang là đường đi trước kia thuộc sổ đỏ của bà Huỳnh Thị L, năm 2016 bà Đào Thị Bích L1 làm căn nhà phía sau lưng đất bà L, thì bà L1 có mua lại của bà L để làm lối đi ra đường với giá 30.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, người làm chứng Đào Thị Bích L1 trình bày:
bà sinh sống tại địa phương từ năm 1997 đến nay. Bà có thửa ruộng phía sau lưng thửa đất của bà Huỳnh Thị Lệ .
Ngày xưa đất của bà Nguyễn Thị Đ1 giáp ranh với đất bà Huỳnh Thị L và cùng giáp đường, phần đất của bà Đ1 cao hơn so với đất của bà L, ranh giới là bờ ruộng và không có con đường đi nào, bờ ruộng nằm trong đất bà Đ1 trên cao. Mọi người đi lại trên bờ ruộng này.
Ruộng gia đình bà (trước đây là đất ông Nguyễn Văn B) nằm sau lưng đất của bà Huỳnh Thị L, gia đình bà và gia đình ông Huỳnh Văn T4 trước đây có trồng lúa nước nên có thương lượng với bà Huỳnh Thị L xin đào 1 con đường mương nhỏ (bề ngang khoảng 20cm) để dẫn nước vào ruộng bà và ông Huỳnh Văn T4. Do phần đất của bà Đ1 và bờ ruộng cao hơn so với phần đất của bà nên con mương nhỏ này nằm trong đất của bà Huỳnh Thị Lệ. Sau khi bà với ông T4 không còn trồng lúa nữa thì lấp mương.
Năm 2016 bà xây nhà, do cần có đường đi từ đường nhựa vào đất nên có mua của bà Huỳnh Thị L 1 phần đất để làm đường (nằm trong sổ đỏ của bà L) có bề ngang khoảng 3-3,5m với giá 30.000.000 đồng, chứ đây không phải lối đi chung.
Thời điểm khoảng trước năm 2000 bà thấy có lần nhà bà T có đổ đất trên đất nhà bà Đ1 để làm lối đi vào bên trong, tuy nhiên cái lối đi đó chỉ có mình nhà bà T đi chứ không cho ai khác đi, nhà bà bên cạnh bà T cũng không cho đi, bà bắt bà phải đi đường vòng, rồi chửi rủa bà miệt thị những người ngoài Bắc vào N không cho đi trên lối đi ấy. Sau rồi nhà bà Đ1 không cho đi nữa, có rào lại hàng rào và trồng thanh long từ năm 2016. Bây giờ con đường bà mua của bà L thì bà T ra vào cũng đi trên con đường này.
Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, người làm chứng Huỳnh Thị L trình bày:
bà là con của bà Nguyễn Thị Đ1, thửa đất của bà Đ1 trước đây là thửa đất 728, tờ bản đồ số 07 giáp ranh thửa đất 729 của bà. Do đất của bà và bà Đ1 giáp ranh với nhau, thửa giáp thửa, đất bà Đ1 cao hơn so với đất của bà, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp từ năm 2005 – 2006 cũng không thể hiện con đường hay con mương nào, ngoài hiện trạng lúc đó ranh giới là bờ ruộng và không có con đường đi nào nên bà Lục Thị T mới tranh chấp với bà Đ1 để đòi làm đường đi.
Trước đây, gia đình bà và ông Huỳnh Văn T4 có thương lượng với nhau, cho ông T4 đào 1 con đường mương nhỏ (bề ngang khoảng 20cm) để dẫn nước vào ruộng, khi đó ruộng của ông Huỳnh Văn T4 và bà Đào Thị Bích L1 phía sau có sử dụng con mương này dẫn nước vào ruộng để trồng lúa. Do phần đất của bà Đ1 cao hơn so với phần đất của bà nên con mương nhỏ này nằm trong đất của bà. Sau khi những người bên trong không còn sử dụng con mương nữa thì con mương này bị lấp lại.
Thời điểm lúc bà T đòi đổ đất làm đường thì bà Đ1 có ý muốn thương lượng với bà T và các hộ dân bên trong nhiều lần, bà Đ1 cũng muốn bán rẻ cho mọi người, chiều ngang 1 mét là khoảng 5 triệu đồng, làm con đường chỉ cần 3 mét chỉ có 15 triệu đồng, chia ra sáu, bảy hộ dân thì mỗi hộ chỉ khoảng vài triệu đồng, nhưng bà T nhất quyết không chịu, muốn lấy nguyên đất của nhà bà Đ1, không muốn trả tiền, tự ý đổ đất rồi chỉ có nhà bà T đi mà không cho ai đi, nên bà Đ1 không đồng ý cho bà T đi nữa, nên làm hàng rào rồi trồng thanh long từ năm 2016, lên xã hòa giải cũng nhiều lần, bà T nhất quyết không chịu, mà lâu lâu lại cứ nộp đơn ra xã đòi tranh chấp.
Cũng năm 2016 bà Đào Thị Bích L1 xây nhà, do cần có đường đi từ đường nhựa vào đất nên có mua của bà 1 phần đường (nằm trong sổ đỏ của bà) có bề ngang khoảng 3-3,5m chính là phần diện tích 73,3m² tại các điểm tọa độ 1, 2, 3, 4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 về mốc 1 thể hiện tại mảnh trích đo địa chính số 68-2023 ngày 08/11/2023.
Do phần đất này bà đã bán cho bà Đào Thị Bích L1 nên khi làm sổ đỏ mới thì bà có chừa phần này ra khỏi sổ đỏ của mình chứ không phải bà tự chừa phần đường này làm lối đi chung cho các hộ dân phía sau.
Sau khi hòa giải không thành, ngày 04/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã đưa vụ án ra xét xử tại bản án số 12/2024/DS-ST, quyết định:
Căn cứ vào:
- - Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 144, 157 và các Điều 266, 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 105, 115, 169, 254 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thiện Đ.
- Buộc bà Lục Thị T chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Thiện Đ đối với thửa đất số 728, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại thôn D xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 606738.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự và việc thi hành án dân sự.
Ngày 06/6/2024, bị đơn bà Lục Thị T kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị đơn bà Lục Thị T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Việc tuân theo pháp luật trong vụ án, Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết luận tranh tụng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận về việc giải quyết vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất. Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp đất đai” là chưa đúng với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất”. Việc xác định lại quan hệ pháp luật không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các đương sự, vì yêu cầu của nguyên đơn đã được cấp sơ thẩm thụ lý, hòa giải và xét xử sơ thẩm.
[2] Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
[2.1] Ông Huỳnh Thiện Đ khởi kiện cho rằng ông đã chuyển nhượng thừa đất số 728 cho ông Hà Minh T1 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng vào ngày 31/8/2022, nhưng do bà Lục Thị T có đơn khiếu nại, tranh chấp gửi đi nhiều nơi, bà T cho rằng giữa thửa đất 728 thuộc quyền sử dụng của ông và thửa đất kế bên của bà Huỳnh Thị L trước đây có con đường đi vào đất của bà Lục Thị T, nên bà T yêu cầu được mở con đường đi như trước đây. Việc bà T có đơn gửi đi nhiều nơi đã cản trở quyền sử dụng đất của ông Đ nên đến nay thửa đất 728 vẫn chưa được đăng ký biến động sang tên cho ông Hà Minh T1 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Do vậy, ông Đ khởi kiện, yêu cầu bà T phải chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông.
[2.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Khoản 7 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất có quyền “Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai”. Như vậy, bà T có đơn khiếu nại, tranh chấp đất đai là quyền của người sử dụng đất được pháp luật quy định, hành vi này không trái pháp luật và không phải là hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Thiện Đ. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện của công dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Hồ sơ, tài liệu các bên cung cấp thể hiện: Theo yêu cầu của bà Lục Thị T, ngày 17/10/2022, UBND xã H đã hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà T và ông Đ. Kết quả hòa giải không thành, UBND xã H hướng dẫn các bên có tranh chấp thì khởi kiện tại Tòa án.
Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định: tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết.
Như vậy, cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà T và ông Đ là Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam. Theo bà T trình bày thì sau khi UBND xã H hòa giải không thành, bà không khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam. Và trong vụ án này, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam cũng không thụ lý yêu cầu phản tố của bà T. Khi bà T không khởi kiện, không phản tố thì được xem là không có tranh chấp.
[2.3] Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
Nếu việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ và ông T1 có đầy đủ các điều kiện trên đây thì các ông có quyền đăng ký biến động sang tên cho người nhận chuyển nhượng. Nếu các cơ quan có thẩm quyền không giải quyết hồ sơ hành chính đăng ký quyền sử dụng đất thì các ông có quyền khởi kiện vụ án hành chính.
[2.4] Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày trước đây gia đình bà T có cho người đến tháo dỡ hàng rào lưới B40 của nguyên đơn và gây thiệt hại cho nguyên đơn. Tuy nhiên, hành vi này cũng đã chấm dứt. Ông Đ cho rằng việc tháo dỡ hàng rào gây thiệt hại cho gia đình ông thì ông có quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại.
[2.5] Như đã nhận định ở phần trên, việc bà T có đơn tranh chấp đất đai gửi UBND xã H (và các đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp nếu có) không phải là hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Đ. Ngoài hành vi này, bà T không có hành vi nào khác cản trở quyền sử dụng đất của ông Đ, trên phần đất ông Đ quản lý, sử dụng không có tài sản của bà T. Việc khiếu nại, tranh chấp đất đai là quyền của công dân nên ông Đ không có quyền khởi kiện và Tòa án cũng không có thẩm quyền giải quyết buộc bà T phải chấm dứt hành vi khiếu kiện liên quan đến thửa đất của ông Đ. Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam thụ lý, giải quyết vụ án dân sự này là không đúng quy định của pháp luật. Do vậy, cấp phúc thẩm sẽ hủy Bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
[3] Do án sơ thẩm bị hủy nên cấp phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo của bà T.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc nguyên đơn phải chịu và đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 308, Điều 311, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Hùy Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 133/TLPT-DS ngày 12/8/2024 giữa nguyên đơn là ông Huỳnh Thiện Đ và bị đơn là bà Lục Thị T.
Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Huỳnh Thiện Đ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai nộp tạm ứng án phí, lệ phí số 0013594 ngày 03/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam.
Về chi phí tố tụng: Ông Huỳnh Thiện Đ phải chịu chi phí đo đạc là 1.445.000 đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.300.000 đồng (ông Đ đã nộp đủ).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 164/2024/DS-PT ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Số bản án: 164/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thiện Đ - Lục Thị T
