TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 164/2024/DS-PT Ngày: 10-7-2024 V/v: “T/c quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Kha
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Ông Nguyễn Thành Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Mai Thuỳ Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc “T/c quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 91/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn:
- Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1951.
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1955 (Chồng bà Đ).
Cùng địa chỉ: Số G đường T, khu phố C, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Văn M – Đoàn luật sư tỉnh K. Địa chỉ: Khu phố E, D, P, Kiên Giang.
*Bị đơn:
- Ông Hà Minh H, sinh năm 1973.
- Bà Võ Nguyễn Anh Đ1, sinh năm 1973 (Vợ ông H).
Cùng địa chỉ: Số B đường C khu L, thành phố R, tỉnh Kiên Giang
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà Đ1: Ông Nguyễn Chí N, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ liên hệ: Tổ A, khu phố A, D, P, Kiên Giang. Theo văn bản uỷ quyền ngày 29/12/2017
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Kim H1, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Số 14 Nguyễn An Ninh, khu phố 2, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
- Ông Trương Minh Đ2, sinh năm 1961 (Chồng bà H1 đã chết ngày 08/9/2018).
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Đ2:
- Bà Trần Kim H1, sinh năm 1962.
- Chị Trương Thị Cẩm V, sinh năm 1979.
- Chị Trương Thị Mỹ T1, sinh năm 1983.
- Anh Trương Minh N1, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Chị Trương Thị Xuân T2, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Ủy ban nhân dân xã C, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Địa chỉ: Ấp Cây Thông Ngoài, xã Cửa Dương, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Người đại diện: Ông Huỳnh Quốc K. Chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã C.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ.
(Bà Huỳnh Thị Đ, Luật sư Võ Văn M, ông Nguyễn Chí N, bà Trần Kim H1 có mặt; còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện ngày 19/10/2022, trong quá trình giải quyết vụ án đồng nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T trình bày:
Năm 1998, vợ chồng bà Đ có khai khẩn thửa đất khoảng 20.000m² toạ lạc tại tổ A, ấp B, xã C, huyện P (N là thành phố P), tỉnh Kiên Giang để làm rẩy, trồng hoa màu, cây ăn trái và T3. Năm 2000, bà Đ đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 20.000m² và được Nhà nước cấp diện tích 9.654m² thuộc thửa số 04, tờ bản đồ 133, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 851179 cấp ngày 31/3/2004.
Năm 2007, vợ chồng bà Đ chuyển nhượng cho ông Hà Minh H diện tích đất nêu trên. Sau khi nhận chuyển nhượng ông H được chỉnh lý biến động sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tháng 02/2008, ông H chuyển nhượng lại thửa đất trên cho bà Trần Kim H1, hợp đồng có chứng thực nhưng chưa sang tên. Bà H1 đã nhận đất và quản lý sử dụng, thì bà Đ tranh chấp cho rằng bà H1 lấn chiếm đất sang phần đất còn lại của bà Đ. Ngay thời điểm chuyển nhượng, diện tích đất mà bà Đ chuyển nhượng cho ông H không có lối đi, bà Đ cũng đã nói đến việc này cho ông H, thì ông H vẫn đồng ý mua. Bà Đ và ông H có thỏa thuận nếu ông H làm vườn thì bà Đ sẽ tạo một lối đi chung cho ông H. Nếu ông H chuyển nhượng cho người khác thì bà Đ không đồng ý chừa đường đi cho ông H, chỉ đồng ý chuyển nhượng đúng với phần diện tích theo giấy chứng nhận mà bà Đ đã chuyển nhượng cho ông H, sự thỏa thuận này bà Đ với ông H chỉ thoả thuận bằng miệng không có lập thành văn bản. Khi bà Đ giao đất cho ông H bà Đ đồng ý cho bên ông H sử dụng giáp lộ Cây Thông Trong ngang 50m, cạnh giáp đất ông Trần Văn P 200m; cạnh giáp đất ông Võ Tá T4 và ông Ngô Đức L 190m, nhưng bà Đ cho ông H kéo dài thêm 10m = 200m. Còn cạnh giáp đất còn lại của bà Đ 56m, nay bà H1 lấn chiếm hai cạnh kéo dài = 257m (Mỗi cạnh dư 57m x ngang 56m). Theo bà Đ đo bằng thước dây thì bà H1 lấn chiếm của bà Đ diện tích ngang 56m, dài 57m, tổng diện tích là 3.192m² nhưng nay đo bằng máy thì diện tích là 2.100m².
Sau khi ông H chuyển nhượng đất cho bà H1, phía bà H1 đã tháo dỡ hàng rào, ranh đất mà bà Đ và ông H đã rào trước đó, bà H1 đã lấn sang phần đất của bà khoảng 2.000m². Năm 2008, vợ chồng bà Đ có ý định dựng một căn nhà trong phần đất còn lại thì bà H1 đến ngăn cản cho rằng bà Đ lấn chiếm đất của bà H1, thì bà Đ làm đơn yêu cầu B nhân dân ấp, xã để giải quyết và đo đạc thì ghi nhận diện tích đất mà bà H1 chuyển nhượng của ông H dư hơn 770,5m², bà Đ không đồng ý nên bà H1 mới làm đơn khiếu nại đến UBND huyện P. Theo quyết định giải quyết số 3614/QĐ-UBND ngày 05/7/2014 của UBND huyện P kết luận bất lợi cho bà Đ nên bà Đ không đồng ý. Bà Đ khiếu nại đến UBND tỉnh K. Theo Quyết định số 4333/QĐ-UBND của UBND tỉnh K ngày 25/6/2012 huỷ bỏ Quyết định số 3614 của UBND huyện P nên bà Đ khởi kiện tại Toà án.
Nay bà Đ, ông T yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc ông Hà Minh H, bà Trần Kim H1 trả cho vợ chồng bà phần diện tích đất dài 57m x ngang 56m tổng diện tích là 2.100m² và toàn bộ số cây trồng trên đất theo biên bản thẩm định. Bên ông H, bà H1 được sử dụng ngang lộ 50m x dài 02 cạnh = 200m, cạnh giáp đất bà Đ = 56m.
Ngày 11/12/2017, bà Đ khởi kiện bổ sung yêu cầu: Buộc ông H và bà H1 phải trả diện tích đất bao chiếm là 2.117,1m² theo đo đạc thực tế ngày 30/7/2014. Tại biên bản lấy lời khai bổ sung ngày 19/12/2023 bà Đ yêu cầu buộc bị đơn ông H và bà H1 trả diện tích theo đo đạc thực tế mà Tòa án đo đạc năm 2021 diện tích 1.818m².
*Bị đơn ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1 ủy quyền cho ông Nguyễn Chí N đại diện trình bày:
Ngày 06/6/2007, vợ chồng ông H có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Đ diện tích đất 9.654m², thuộc thửa số 4, tờ bản đồ 133, toạ lạc tại ấp B, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận số Y 851179 cấp cho bà Đ ngày 31/3/2004. Với giá chuyển nhượng 480.000.000đ. Vợ chồng ông H đã giao đủ tiền và bà Đ đã giao đất cho ông H. Việc chuyển nhượng có lập hợp đồng theo mẫu có chứng thực của UBND xã được chỉnh lý biến động sang tên ông H. Khi bà Đ giao đất cho ông H, bà Đ có chỉ ranh giới hậu giáp suối, cạnh giáp đường mòn của dân cư, không có lộ xóm. Sau khi nhận đất ông H không sử dụng và cũng không làm hàng rào.
Ngày 21/02/2008, vợ chồng ông H chuyển nhượng lại toàn bộ thửa đất nói trên cho bà Trần Kim H1, với giá 900.000.000 đồng, nhưng trong hợp đồng chỉ ghi có 300.000.000 đồng, việc chuyển nhượng hai bên có lập hợp đồng theo mẫu có chứng thực của UBND xã, bà H1 giao đủ tiền, ông H giao đất cho bà H1 sử dụng đúng vị trí của vợ chồng bà Đ chỉ cho ông H. Bà Đ cho rằng phần đất bà Đ chuyển nhượng cho ông H không ra tới đường xóm, thì ông H không đồng ý mua vì không có đường vô đất. Phía bà H1 cho rằng cạnh giáp đất ông Ngô Đức L có con đường là không đúng, vì trước đây không có con đường này, chỉ có con đường liên xóm giáp bà Ngô Thị L1. Việc chuyển nhượng đất giữa ông H với bà Đ có dư đất nhưng để hợp thức hoá nên các bên chỉ thoả thuận chuyển nhượng với diện tích 9.654m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại thời điểm bà Đ chuyển nhượng cho ông H, bà Đ có nói phần đất dư so với trong giấy nhưng khi chuyển nhượng đất cho bà H1, ông chỉ chuyển nhượng phần đất trong giấy, nhưng khi giao đất thì ông giao đúng vị trí bà Đ đã chỉ cho ông H.
Nay vợ chồng ông H, bà Đ1 phản tố yêu cầu: Bác yêu cầu khởi kiện của vợ chồng bà Đ, ông T, công nhận diện tích đất 1.818m² ngoài giấy cho bà H1.
*Người có quyền lợi, nghĩa liên quan bà Trần Kim H1 đồng thời là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Minh Đ2 trình bày:
Ngày 21/02/2008, bà H1 có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1 diện tích 9.654m², thuộc thửa số 133, tờ bản đồ số 04 tại ấp B, xã C, huyện P (N là thành phố P), tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Y 851170 cấp ngày 31/3/2004 cho bà Huỳnh Thị Đ đứng tên đã được chỉnh lý biến động sang tên ông Hà Minh H. Với giá 81.000.000 đồng/1.000m²x 9.654m² thành tiền là 772.320.000 đồng, nhưng hợp đồng chỉ ghi 300.000.000 đồng. Vị trí đất ông H giao như sau: Đông giáp suối 50m, Bắc giáp Trần Văn P 200m, Nam giáp suối 50m, Tây giáp Ngô Đức L2 và Võ Tá T4 190m. Tại thời điểm chuyển nhượng không đo đạc thực tế, ông H chỉ ranh đất cụ thể, rõ ràng, không tranh chấp với ai, trên đất có Đ1, T3 và một số cây có sẵn.
Tháng 4/2008, bà phát hiện vợ chồng bà Đ vào khu vực đất của bà H1 nhận chuyển nhượng của ông H làm nhà tạm, bà H1 có báo chính quyền ấp lập biên bản và được ông H uỷ quyền cho bà H1 làm đơn yêu cầu ấp giải quyết. Ban ấp giải quyết xác định vợ chồng bà Đ làm nhà trong phần đất của bà H1 đã nhận chuyển nhượng của ông H. Phần đất này nằm ngoài giấy là do trước đây bà Đ đã thoả thuận giao cho ông H sử dụng. Ban ấp hoà giải chia đôi vị trí đất tranh chấp, bà H1 và vợ chồng bà Đ thống nhất nên bà H1 có mua trụ bê tông và dây kẽm gai nhờ ông T (Chồng bà Đ) rào theo ranh đã thoả thuận, hiện trạng ranh vẫn còn. Sự việc các bên đã hoà giải thành tại ấp nên bà H1 lập thủ tục chuyển nhượng diện tích 9.654m², thuộc thửa số 134, tờ bản đồ số 45, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 021809 cấp ngày 25/4/2016 đứng tên Trần Kim H1. Sau đó, bà Đ đổi ý nên bà H1 yêu cầu UBND xã C tiếp tục giải quyết và đo đạc xác định phần đất dư theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 770,5m² xã động viên, thì bà H1 và bà Đ thống nhất là bà Đ không tranh chấp, nhưng sau đó bà Đ tiếp tục đổi ý và khiếu nại đến UBND huyện P và UBND tỉnh K trả lời thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Nay bà H1 yêu cầu độc lập: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ, ông T. Công nhận cho bà diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 1.818m² toạ lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang và buộc bà Đ, ông T chấp dứt hành vi cản trở bà sử dụng quyền sử dụng đất hợp pháp.
*Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trương Minh Đ2 là Trương Thị Cẩm V, Trương Thị Mỹ T1, Trương Minh N1 và Trương Thị Xuân T2 thống nhất trình bày: Đồng ý với ý kiến trình bày và yêu cầu của bà Trần Kim H1.
*Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 01/2/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T đối với bị đơn ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1 đối với nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ,ông Trần Văn T về việc công nhận quyền sử dụng đất.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Kim H1 đối với nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T về việc công nhận quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất.
Tạm giao quyền sử dụng đất đo đạc thực tế diện tích 1.818m², tọa lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Trần Kim H1. Đất thể hiện tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (N là thành phố P), tỉnh Kiên Giang và sơ đồ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số TĐ 98 ngày 10/5/2021 của Chi văn phòng đăng ký đất đai thành phố P kèm theo.
Bà Trần Kim H1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Buộc bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T phải chấm dứt hành vi cản trở bà Trần Kim H1 sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất trên.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 16/02/2024, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ có đơn kháng cáo với nội dung:
Yêu cầu hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn ông Hà Minh H và bà Võ Nguyễn Anh Đ1 không có kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang nêu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ của nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn ông Hà Minh H và bà Võ Nguyễn Anh Đ1 vắng mặt nhưng có người đại diện là ông Nguyễn Chí N; chị Trương Thị Cẩm V, Trương Thị Mỹ T1, anh Trương Minh N1, chị Trương Thị Xuân T2 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.
- [2] Về nội dung kháng cáo của bản án sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Lý do, Toà án xét xử không khách quan, không công bằng và không đúng sự việc.
Hội đồng xét xử xét thấy: Nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Đ, ông T được cấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 9.654m², thuộc thửa số 133, tờ bản đồ số 04, tại ấp B, xã C, huyện P (N là thành phố P), tỉnh Kiên Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Y 851170 do Ủy ban nhân dân huyện P (N là thành phố P), tỉnh Kiên Giang cấp ngày 31/3/2004.
Ngày 28/6/2007, bà Đ chuyển nhượng diện tích đất nói trên cho vợ chồng ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1. Sau khi nhận đủ tiền bà Đ giao đất đúng vị trí chuyển nhượng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà Đ1 làm thủ tục được chỉnh lý biến động đứng tên ông H trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21/02/2008, bà Đ phát hiện vợ chồng ông H, bà Đ1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên cho bà Trần Kim H1, giao đất cho bà H1 sử dụng lấn chiếm sang phần đất còn lại của bà Đ diện tích 2.117,1m², theo đo đạc thực tế 1.818m² nên phát sinh tranh chấp.
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 28/6/2007, bà Đ chuyển nhượng diện tích đất 9.654m² với giá 480.000.000 đồng cho vợ chồng ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1. Sau khi nhận đủ tiền bà Đ giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà Đ1 làm thủ tục được chỉnh lý biến động đứng tên ông H trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL, 09, 10, 11, 60,61). Đối với hợp đồng chuyển nhượng này thì vợ chồng bà Đ, ông T và vợ chồng ông H, bà Đ1 không có tranh chấp.
Tuy nhiên, bà Đ cho rằng sau khi ông H chuyển nhượng phần đất này lại cho bà H1 thì đã giao đất và bà H1 sử dụng lấn sang phần đất còn lại của bà nên bà có yêu cầu ấp, xã giải quyết. Tại Ban N2 hoà giải ngày 09/4/2008, bà Đ thống nhất giao cho bà H1 được quyền sử dụng diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà Đ đã chuyển nhượng cho ông H và ông H chuyển nhượng lại cho bà H1 để bà H1 sử dụng. Đối với phần đất dư được kéo 02 cạnh dài 200m theo thực tế dài đến giáp đất ông Nguyễn Hồng P1 có trừ từ hàng rào ông Nguyễn Hồng P1 ra làm con đường đi 7 mét. Phần diện tích đất còn lại giao cho bà H1 sử dụng. Như vậy, căn nhà bà Đ xây dựng không thuộc phần đất của bà H1 (Ông H) hai bên thống nhất như hoà giải (BL 19, 20).
Tại biên bản hoà giải của Ủy ban nhân dân xã C ngày 06/11/2008, bà H1 có ý kiến cho rằng: Bà không khiếu nại gì và đã thống nhất theo biên bản hoà giải của Ban N2 và sơ đồ đo đạc theo bản đồ địa chính. Phần diện tích tăng do đo đạc trước đây chưa chính xác. Bà Đ có ý kiến cho rằng: Bà Đ đã sang nhượng cho ông H với diện tích là 9.654m² nên bà Đ đề nghị đo đạc lại nếu thiếu thì bà Đ bù thêm, nếu dư là Điều trả lại cho bà H1. Bà Đ đề nghị đo đạc lại phần đất của bà H1 nếu diện tích 10.424,5m² thì bà Điều thống nhất giao phần đất này cho bà H1, còn nếu thừa thì bà H1 giao lại cho bà Đ. Do đó, Uỷ ban nhân dân xã xác định: Trong phần đất của ông H sang nhượng của bà Đ là 9.654m². Nay đo đạc là 10.424,5m² tăng 770,5m² đề nghị giao lại cho ông H vì phần diện tích này là do trước đây đo đạc không chính xác. Hội đồng hoà giải thống nhất theo ý kiến của hai bên đương sự (BL 21, 22).
Tại biên bản xác minh ông Trần Văn T5 là Trưởng ấp B, xã C xác nhận: Tại biên bản hoà giải ngày 09/4/2008, bà Đ và bà H1 thoả thuận phần đất dư hiện nay các bên đang tranh chấp theo sơ đồ hiện trạng ngày 26/6/2014, bà Đ thống nhất chia đôi, nhưng do phần đất dư còn lại của bà Đ sau khi đo đạc thực tế có diện tích lớn hơn phần đất tranh chấp nên bà Đ chỉ đồng ý giao phần đất dư mà hiện nay đang tranh chấp cho bà H1. Do đó, các bên hoà giải thành, đại diện Ban nhân dân ấp cùng hai bên tranh chấp đến thực địa để giao đất và xác định ranh giới đất của hai bên. Tại thời điểm đó, chồng bà H1 là ông Trương Minh Đ2 có thuê ông Trần Văn T là chồng bà Đ đến hàng rào từ cạnh HN để xác định lập hàng rào mới theo sơ đồ bản vẽ các cạnh HI, IX và có trả tiền công cho ông T. Phần đất được cấp giấy của bà Đ đã chuyển nhượng cho ông H và ông H chuyển nhượng cho bà H1 và phần đất của ông Nguyễn Đức L3, ông Võ Tá T4 nhà nước có chừa một con đường đi chung là do đất nhà nước quản lý để cho các hộ có đất dùng làm đường đi chính là phần đất có hình XWTSRQPONM theo sơ đồ hiện trạng và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 26/6/2014 của Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (N là thành phố P), tỉnh Kiên Giang (BL 149, 150).
Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/7/2014 của Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (Nay là TAND thành phố Phú Quốc), tỉnh Kiên Giang và sơ đồ trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp số 63 ngày 01/8/2014 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P (Nay là Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P), thì diện tích đất bà H1 đang sử dụng có hàng rào, ranh giới là 10.424,5m² theo đo đạc thực tế là 11.808,1m², trong đó: Bà Điều tranh chấp diện tích chưa được cấp giấy là 2.117,1m² trong diện tích đất này ngày 09/4/2008 bà Đ thống nhất giao cho bà H1 sử dụng diện tích 1.644,1m², diện tích đất còn lại 473m² để làm đường đi chung (BL19, 20, 71).
Ngày 22/6/2020, bà Đ yêu cầu Toà án đo đạc thẩm định tại chỗ lại diện tích tranh chấp. Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (N là thành phố P), tỉnh Kiên Giang và sơ đồ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số TĐ 98 ngày 10/5/2021 của Chi văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, thì diện tích đất bà H1 đang sử dụng có hàng rào, ranh giới là 10.424,5m² theo đo đạc thực tế là 11.430,9m², trong đó: Bà Điều tranh chấp diện tích chưa được cấp giấy là 2.117,1 m² theo đo đạc thực tế là 1.818m² trong diện tích đất này ngày 09/4/2008, bà Đ thống nhất giao cho bà H1 sử dụng (BL 19, 20,293).
Như vậy, mặc dù theo hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Đ với ông H chuyển nhượng diện tích có giấy là 9.654m², nhưng khi giao đất và xác định ranh giới cho ông H thì giao trên thực tế các bên đã xác định ranh giới với nhau. Đồng thời, khi ông H chuyển nhượng lại cho bà H1 và bà Đ phát sinh tranh chấp thì khi giải quyết tại ấp, xã thì ông T, bà Đ đồng ý xác định ranh giới, rào hàng rào theo sơ đồ đo đạc và giao phần đất tranh chấp cho bà H1 sử dụng từ năm 2008 đến nay, phần hàng rào do bà H1 thuê ông T chồng bà Đ rào đến nay vẫn còn nguyên hiện trạng, không ai thay đổi hay di dời. Do đó, ông T, bà Đ khởi kiện yêu cầu buộc ông Hà Minh H, bà Trần Kim H1 phải trả diện tích đất bao chiếm theo đo đạc thực tế 1818m² là không có căn cứ chấp nhận. Mặt khác khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Đ và ông H thì thể hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ có hình thể 2 mặt giáp suối và theo biên bản xác định ranh mốc giới ngày 07/6/2007 của UBND xã C xác định hình thể có hai bên giáp suối. Như vậy diện tích đất thực tế lớn hơn diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng các bên đã giao cho nhau và thỏa thuận hết cả phần đất nằm ngoài giấy.
[2.2] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của bà H1: Ngày 06/6/2007, vợ chồng ông H có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Đ diện tích đất 9.654m², thuộc thửa số 4, tờ bản đồ 133, toạ lạc tại ấp B, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận số Y 851179 cấp cho bà Đ ngày 31/3/2004, hai bên chuyển nhượng đất có dư nhưng trong hợp đồng chỉ ghi đúng diện tích cấp giấy để hợp thức hóa giấy tờ. Nhưng khi giao đất thì bà Đ có chỉ ranh giới trên thực tế cho ông H sử dụng. Năm 2008, ông H chuyển nhượng lại cho bà H1 toàn bộ diện tích này với giá 772.320.000 đồng và cũng giao đất đúng vị trí bà Đ đã chỉ ranh. Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông H, bà H1 lập thành văn bản, có chứng thực theo quy định pháp luật và bà H1 đã chỉnh lý biến động sang tên cho bà H1, giữa ông H và bà H1 không có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng này. Sau đó, bà Đ tranh chấp cho rằng bà H1 lấn chiếm đất của bà Đ. Sự việc được chính quyền địa phương hoà giải, thì bà Đ và bà H1 thoả thuận được chính quyền địa phương lập biên bản hoà giải thành. Bà Đ chỉ ranh giới, bà H1 thuê ông T (Chồng bà Đ) như đã nói ở trên rào lại có mặt chính quyền địa phương chứng kiến, hiện tại hàng rào ranh giới vẫn còn. Do đó, yêu cầu phản tố của ông H, bà Đ1 cũng như yêu cầu độc lập của bà H1 bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ, ông T và công nhận diện tích đất tranh chấp cho bà H1 là có căn cứ chấp nhận. Do đất tranh chấp được công nhận cho bà H1 nên bà H1 yêu cầu buộc bà Đ, ông T chấp dứt hành vi cản trở bà H1 sử dụng quyền sử dụng đất hợp pháp là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát cho rằng xác định bà H1 với tư cách là người liên quan là chưa phù hợp mà phải xác định là bị đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với việc xác định tư cách đương sự bà Trần Kim H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng với yêu cầu khởi kiện của bà Đ từ ban đầu vì bà Đ không có giao dịch với bà H1 và bà H1 mua đất từ ông H, bà Đ1. Do đó, cấp sơ thẩm xác định bà H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp pháp luật.
Đối với cây trồng trên đất bà Đ và bà H1 đều cho rằng của mình trồng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Tuy nhiên, khi bà Đ đồng ý giao đất cho bà H1 sử dụng từ ngày 09/4/2008, tại thời điểm giao đất bà Đ không có yêu cầu bà H1 bồi thường cây trồng trên đất tranh chấp. Do đó, bà H1 sử dụng từ đó đến nay nên xác định cây trồng trên đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà H1.
[3] Các quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất không chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[4] Về chi phí tố tụng: Bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T yêu cầu không được toà án chấp nhận nên phải chịu toàn bộ chi phí 7.720.000 đồng (Trong đó, tiền đo vẽ 2.220.000 đồng và tiền định giá 5.500.000 đồng). Bà Đ, ông T đã nộp xong.
[5] Về án phí dân sự:
[5.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đ, ông T yêu cầu không được Toà án chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Do bà Đ, ông T là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí theo điểm đ Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bà Đ, ông T được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng theo biên lai thu số 00763 ngày 01/4/2014 và tiền tạm ứng án phí yêu cầu bổ sung đã nộp 300.000 đồng theo biên lại thu số 0006443 ngày 15/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Quốc (Nay là Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc), tỉnh Kiên Giang.
Ông H, bà Đ1 yêu cầu phản tố được Toà án chấp nhận nên không phải chịu án phí được hoàn trả tiền tạm ứng án phí yêu cầu phản tố đã nộp là 600.000 đồng theo biên lai thu số 0009420 ngày 08/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Bà H1 yêu cầu độc lập được Toà án chấp nhận nên không phải chịu án phí được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.200.000 đồng theo biên lai thu số 0009340 ngày 14/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
[5.2] Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên bà Huỳnh Thị Đ là người cao tuổi nên không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ.
- - Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Căn cứ Điều Điều 5, 26, 35, 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;Điều 234, 235, 259và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 105 và 136 Luật đất đai năm 2003; điểm đ Điều 12, Điểu 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T đối với bị đơn ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1 đối với nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T về việc công nhận quyền sử dụng đất.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Kim H1 đối với nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T về việc công nhận quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất.
Tạm giao quyền sử dụng đất đo đạc thực tế diện tích 1.818m², tọa lạc tại ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Trần Kim H1. Đất thể hiện tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (N là thành phố P), tỉnh Kiên Giang và sơ đồ trích đo địa chính thửa đất tranh chấp số TĐ 98 ngày 10/5/2021 của Chi văn phòng đăng ký đất đai thành phố P kèm theo.
Bà Trần Kim H1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Buộc bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T phải chấm dứt hành vi cản trở bà Trần Kim H1 sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất trên.
- Về chi phí tố tụng: Bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T phải chịu toàn bộ chi phí 7.720.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng), (Trong đó, tiền đo vẽ 2.220.000 đồng và tiền định giá 5.500.000 đồng). Bà Đ, ông T đã nộp xong.
- Về án phí:
5.1 Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Đ, ông Trần Văn T không phải chịu. Bà Đ ông T được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 00763 ngày 01/4/2014 và tiền tạm ứng án phí yêu cầu bổ sung đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lại thu số 0006443 ngày 15/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Quốc (Nay là Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc), tỉnh Kiên Giang.
Ông Hà Minh H, bà Võ Nguyễn Anh Đ1 được hoàn trả tiền tạm ứng án phí yêu cầu phản tố đã nộp là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009420 ngày 08/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
Bà Trần Kim H1 được hoàn trả tiền tạm ứng án phí yêu cầu độc lập đã nộp là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009340 ngày 14/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
5.2 Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Bá Kha |
Bản án số 164/2024/DS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về t/c quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản
- Số bản án: 164/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: T/c quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Đ-Hà Minh H-T/c quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản
