TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 164/2024/HNGĐ-ST Ngày 25-9-2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hoàng Lệ Chi;
- Bà Phạm Tú Nhi.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Vào ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 392/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Thanh T, sinh năm 2002; thường trú: Tổ F, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1995; thường trú: số C, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 5 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trịnh Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thanh T và anh Trần Văn L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2023, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo giấy chứng nhận kết hôn số 07 cấp ngày 30/01/2023 và có sự chấp thuận của gia đình hai bên.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại số nhà C khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho đến tháng 01/2024 vợ chồng sống ly thân, chị Trịnh Thị Thanh T về tại Tổ F, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước sống cho đến nay. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc nguyên nhân vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hợp, anh Trần Văn L thường xuyên đánh đập chị Trịnh Thị Thanh T, ngay cả khi chị Trịnh Thị Thanh T có thai vẫn bị anh Trần Văn L đánh đập. Nay chị Trịnh Thị Thanh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tiếp tục cùng nhau xây dựng gia đình nên chị Trịnh Thị Thanh T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn L.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị Trịnh Thị Thanh T và anh Trần Văn L có 01 con chung là Trần Quang H, sinh ngày 31/10/2023. Sau ly hôn, chị Trịnh Thị Thanh T có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không yêu cầu anh Trần Văn L thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Trần Văn L: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bị đơn anh Trần Văn L có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị Trịnh Thị Thanh T nhưng anh Trần Văn L không có ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 19/8/2024; tham gia phiên tòa vào các ngày 09/9/2024 và 25/9/2024 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng không có ý kiến và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Trịnh Thị Thanh T và anh Trần Văn L do Tòa án tiến hành, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau: Chị Trịnh Thị Thanh T và anh Trần Văn L trước khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án không yêu cầu chính quyền địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thực tế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung như thế nào chính quyền địa phương không nắm rõ vì không thấy đại diện khu phố, nhân dân phản ánh hay cung cấp thông tin gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Trịnh Thị Thanh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn anh Trần Văn L đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 09/9/2024 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thanh T và anh Trần Văn L tự nguyện sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước theo giấy chứng nhận kết hôn số 07 cấp ngày 30/01/2023 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
- Nguyên đơn xác định quá trình chung sống, vợ chồng sống không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, anh Trần Văn L có hành vi bạo lực, đánh đập chị Trịnh Thị Thanh T. Nay, chị Trịnh Thị Thanh T xác định tình cảm vợ chồng với anh Trần Văn L không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nên yêu cầu được ly hôn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh Trần Văn L đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Trần Văn L không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và không muốn hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không đạt được mục đích. Vì vậy, xét thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung của vợ chồng nên yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Thị Thanh T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Trịnh Thị Thanh T và anh Trần Văn L có 01 con chung là Trần Quang H, sinh ngày 31/10/2023. Sau ly hôn, chị Trịnh Thị Thanh T có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Quá trình tố tụng tại Tòa án anh Trần Văn L vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con. Xét thấy, cháu Trần Quang H còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ. Đồng thời, hiện nay cháu Trần Quang H, đang do chị Trịnh Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt nên căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình có cơ sở chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị Trịnh Thị Thanh T. Anh Trần Văn L có quyền thăm nom con chung.
- Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trịnh Thị Thanh T về việc không yêu cầu anh Trần Văn L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
- Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Trịnh Thị Thanh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trịnh Thị Thanh T về việc ly hôn với bị đơn anh Trần Văn L.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Văn L (theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 07 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước cấp ngày 30/01/2023).
- - Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Trần Quang H, sinh ngày 31/10/2023 cho chị Trịnh Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Sau khi ly hôn, chị Trịnh Thị Thanh T và anh Trần Văn L có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trịnh Thị Thanh T về việc không yêu cầu anh Trần Văn L cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Trịnh Thị Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001443 ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Thị Uyên |
Bản án số 164/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 164/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Trịnh Thị Thanh T yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Trần Văn L
