Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

——————

Bản án số: 164/2021/DS-PT

Ngày: 30-9-2021

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.

Các Thẩm phán:

  • - Bà Phạm Thị Hồng Vân
  • - Ông Nguyễn Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2021/TLPT-DS ngày 31 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2021/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 164/2021/QĐ-PT ngày 05 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N.

    Địa chỉ trụ sở: Số 18 T, M, Quận T, Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K, chức vụ: Chủ tịch hội đồng thành viên.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thành D, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N, Chi nhánh huyện B, tỉnh Tây Ninh. Theo giấy ủy quyền số 510/QĐ-HĐTV-PC ngày 19-6-2014 của Chủ tịch Hội đồng thành viên A cho giám đốc Chi nhánh.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Thành D là anh Lê Thanh S - Phó giám đốc A Chi nhánh huyện B, tỉnh Tây Ninh. Theo Văn bản ủy quyền số 86/VBUQ-BC, ngày 13-4-2020, (có mặt).

  2. Bị đơn:

    2.1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1957. Địa chỉ: Số 184, Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, (vắng mặt).

    2.2 Bà Huỳnh Thị B, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Số 184, Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Người đại diện theo ủy quyền của bà B là ông Nguyễn Văn T (giấy ủy quyền ngày 09-9-2019), (vắng mặt).

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    3.1. Bà Huỳnh Thị T2, sinh năm: 1962. Địa chỉ: Khu phố N, phường M, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

    3.2. Ông Đỗ Minh L, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Khu phố N, phường M, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Người đại diện theo ủy quyền của ông L là bà Huỳnh Thị T2 (giấy ủy quyền ngày 19-5-2020), (có đơn xin xét xử vắng mặt).

    3.3. Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ trụ sở: Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

    Người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Văn N2, chức vụ: Phó chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh. Theo văn bản ủy quyền số 250/UQ-CCTHA, ngày 23-6-2020, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị T2 và ông Đỗ Minh L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05-7-2019 và trong quá trình làm việc đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 12-4-2010 Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B, tỉnh Tây Ninh (gọi tắt là A) và ông Nguyễn Văn T, bà Huỳnh Thị B có ký kết hợp đồng tín dụng số: 5708- LAV - 201001405, ông T, bà B vay số tiền 400.000.000 đồng, mục đích sử dụng tiền vay: sang nhượng QSDĐ nông nghiệp, lãi suất 1,4%/tháng, lãi suất nợ quá hạn: 2.100% tháng. Ngày trả nợ cuối cùng là ngày 13 tháng 4 năm 2011, hình thức bảo đảm tiền vay: theo hợp đồng thế chấp tài sản số 265/2010/HĐTC, ngày 12-4-2010, gồm có hai tài sản: là QSDĐ có diện tích: 167 m2, thửa đất số 83,85, tờ bản đồ số 5A, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gọi tắt là GCNQSDĐ) số: 04199, do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18-8-1999, do bà Huỳnh Thị T2 đứng tên, phạm vi bảo đảm là 200.000.000 đồng và QSDĐ có diện tích: 1.427 m2, thửa đất số 41,42 tờ bản đồ số 3K, thuộc GCNQSDĐ số: 04189, do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18-8-1999 do ông Nguyễn Văn T, bà Huỳnh Thị B đứng tên, nghĩa vụ được bảo đảm là 200.000.000 đồng.

Do ông T, bà B phải thi hành những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng không còn tài sản nào khác. Ngày 08-6-2011 Chi cục Thi hành án dân sự huyện B yêu cầu ngân hàng phối hợp kê biên tài sản của ông T, bà B đối với phần đất diện tích 1.427m2, thửa đất số 41, 42 theo quy định để thực hiện nghĩa vụ thi hành của ông T, bà B, trong đó ưu tiên thanh toán khoản tiền bảo đảm cho hợp đồng vay số: 5708- LAV -201001405. Ngân hàng đồng ý để Thi hành án dân sự kê biên tài sản thế chấp của ông T, bà B. Sau khi kê biên, Thi hành án đã ưu tiên thanh toán cho ngân hàng số tiền 471.538.547 đồng, trong đó tiền gốc là 213.130.214 đồng và tiền lãi là 258.408.333 đồng. Còn nợ lại 186.869.786 đồng. Kể từ sau khi kê biên và thanh toán số tiền 471.538.547 đồng thì ông T, bà B không trả cho Ngân hàng thêm khoản tiền nào khác.

Ngân hàng N yêu cầu ông T, bà B phải trả nợ cho ngân hàng, số tiền gốc: 186.869.786 đồng và tiền lãi là 428,749.094 đồng. Tổng cộng là: 615.618.880 đồng.

Tại phiên tòa: ông Sơn yêu cầu ông T, bà B thanh toán số tiền nợ gốc là 186.869.786 đồng, tiền lãi trong hạn: 296.718.082 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 31-3-2021 là: 132.031.012 đồng. Tổng cộng là 615.618.880 đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 5708- LAV-201001405, kể từ ngày 01-4-2021 cho đến khi thanh toán xong.

Trường hợp ông T, bà B không thanh toán được khoản nợ trên cho A, thì A yêu cầu bán tài sản thế chấp là QSDĐ diện tích 167 m2, thửa đất số 83,85, tờ bản đồ số 5A, thuộc GCNQSDĐ số: 04199, do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 18-8-1999, do bà Huỳnh Thị T2 đứng tên, theo hợp đồng thế chấp tài sản số 265/2010/HĐTC, ngày 12-4-2010 để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về tố tụng: Ngân hàng N khởi kiện ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị B trả tiền vay theo hợp đồng tín dụng số: 5708-LAV-201001405, ngày 12-4-2010. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là có căn cứ.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị T2, ông Đỗ Minh L: Hội đồng xét xử xét thấy bà T2 đã tự nguyện đem tài sản của mình thế chấp bảo lãnh cho khoản vay của ông T, bà B. Đến thời điểm hiện nay, ông T, bà B đã đến hạn trả nợ nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng và không có khả năng trả nợ. Theo quy định tại Điều 369 của Bộ luật Dân sự năm 2005, ngân hàng có quyền yêu cầu bán tài sản thế chấp là QSDĐ diện tích 167 m2, thửa đất số 83,85, tờ bản đồ số 5A, thuộc GCNQSDĐ số: 04199 để thu hồi nợ. Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Minh L và bà Huỳnh Thị T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Minh L và bà Huỳnh Thị T2.
  2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 04/2021/DS-ST ngày 31/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B, tỉnh Tây Ninh đối với ông Nguyễn Văn T, bà Huỳnh Thị B.
  4. Buộc ông Nguyễn Văn T, bà Huỳnh Thị B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền 615.618.880 đồng.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Tây Ninh;

- TAND H. Bến Cầu;

- CCTHADS H. Bến Cầu;

- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Tây Ninh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2021/DS-PT ngày 30/09/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 164/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N yêu cầu ông T, bà B phải trả nợ cho ngân hàng, số tiền gốc: 186.869.786 đồng và tiền lãi là 428,749.094 đồng. Tổng cộng là: 615.618.880 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger