|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1631/2024/DS-ST
Ngày: 19/8/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hòa Bình
2. Bà Hồ Thị Lang
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Dương Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 1861/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 586/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 346/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T
Địa chỉ: 80/17 Đường số 8, Phường 11, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T1
Địa chỉ: 124/106/18 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
(Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2023 của Ngân hàng TMCP S; các bản tự khai; các biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/4/2019, ông Nguyễn Đức T1 và Ngân hàng TMCP S (Sau đây có thể gọi tắt là Ngân hàng) ký với hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).
Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Đức T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể: Loại thẻ: V; Số thẻ: 472075-6369; Hạn mức 50.000.000 đồng; Mức lãi suất: 2.6%
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông Nguyễn Đức T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 556,938,210 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 511.313.000 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Do ông Nguyễn Đức T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/9/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 19/8/2024, ông T1 còn nợ các khoản như sau: Dư nợ gốc: 54.045.747 đồng; Lãi quá hạn: 70.610.295 đồng; Tổng cộng: 124.656.042 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu, sáu trăm năm mươi sáu ngàn, không trăm bốn mươi hai đồng)
Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 54.045.747 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/ tháng (2.6% x 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán khoản nợ vay nêu trên, tuy nhiên ông T1 vẫn chưa thanh toán. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng K đề nghi Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây:
Buộc ông Nguyễn Đức T1 phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 24/6/2024 là 124.656.042 đông (Một trăm hai mươi bốn triệu, sáu trăm năm mươi sáu ngàn, không trăm bốn mươi hai đồng) trong đó nợ gốc : 54.045.747 đồng, lãi quá hạn: 70.610.295 đồng. Ông Nguyễn Đức T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/6/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
+ Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Ngoài ra nguyên đơn còn nộp bổ sung bản tự khai và tóm tắt bảng sao kê tính lãi đến ngày xét xử sơ thẩm như sau:
Đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh buộc ông Nguyễn Đức T1 trả lại số tiền còn nợ tính đến ngày 19/8/2024 là 128.660.805 đồng (trong đó nợ gốc là: 54.045.000 đồng, N lãi quá hạn là: 74.615.058 đồng) cho Ngân hàng TMCP S. Yêu cầu ông Nguyễn Đức T1 tiếp tục trả lãi theo lãi suất quy định trong hợp đồng từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết nợ.
Đối với sự vắng mặt của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn để lập bản tự khai, tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên tòa. Tuy nhiên bị đơn ông Nguyễn Đức T1 đều vắng mặt và không cung cấp tài liệu chứng cứ và không có bất cứ ý kiến nào về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tuy nhiên thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- - Việc tuân thủ pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa ngày hôm nay đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn, từ khi thụ lý đến phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, mặc dù Tòa án đã triệu tập và niêm yết hợp lệ.
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Đức T1 phải thanh toán tổng số tiền 128.660.805 đồng (trong đó nợ gốc là: 54.045.000 đồng, nợ lãi quá hạn là: 74.615.058 đồng) cho Ngân hàng TMCP S và tiền lãi phát sinh tiếp theo tính đến thời điểm ông T1 trả hết nợ cho nguyên đơn.
- - Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
1.1 Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Đức T1 có địa chỉ cư trú tại 1 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
1.2 Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019 giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP S và bên vay là
ông Nguyễn Đức T1. Xét đây là quan hệ giao dịch dân sự, hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng là cá nhân. Do đó có cơ sở để xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.3 Về sự vắng mặt của các đương sự:
Trong quá trình tố tụng, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khái chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Nguyễn Đức T1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị đơn cũng không có ý kiến phản hồi gửi về Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh. Vì vậy, ông Nguyễn Đức T1 đã vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ, tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của đương sự. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại các Điều 196, 207, 208 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về phía đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ quy định tại các Điều 196, 207, 208 và 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S yêu cầu bị đơn là ông Nguyễn Đức T1 thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/8/2024 là: 128.660.805 đồng (trong đó nợ gốc là: 54.045.000 đồng, N lãi quá hạn là: 74.615.058 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tính từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm đến thời điểm bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán khoản tiền gốc là 54.045.000 đồng:
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019 giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP S và bên vay là ông Nguyễn Đức T1 có chữ ký xác nhận của bên vay và bên cho vay; Căn cứ vào bảng tóm tắt sao kê số thẻ 472075-6369 của Ngân hàng TMCP S thể hiện:
Ngân hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, cụ thể: Loại thẻ: Vi Sa Pay Wave C; Số thẻ: 472075-6369; Hạn mức 50.000.000 đồng; Mức lãi suất: 2.6% cho ông Nguyễn Đức T1.
Từ khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 556.938.210 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay
ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 511.313.000 đồng. Tính đến ngày 23/9/2021, ông T1 còn nợ số tiền gốc là 54.045.000 đồng.
Xét nội dung Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019 có nội dung phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có hiệu lực pháp luật. Bị đơn đã vi phạm các thỏa thuận, các quy định về quyền và nghĩa vụ giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019. Do đó, có cơ sở chấp nhận buộc bị đơn thanh toán nợ gốc là là: 54.045.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tiền lãi quá hạn tính đến ngày 19/8/2024 là: 74.615.058 đồng và lãi phát sinh từ ngày 20/8/2024 cho đến khi bị đơn trả hết nợ theo lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019:
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, nên ngày 23/9/2021 Ngân hàng TMCP S đã chuyển toàn bộ nợ gốc 54,045,000 đồng thành nợ quá hạn theo Điều 23 của Bảng điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng với mức lãi xuất 3,9%/ tháng (150% mức lãi suất trong hạn 2,6%). Việc tính lãi của nguyên đơn trong Hợp đồng là phù hợp với quy định khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu tiền lãi của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 19/8/2024 là: 74.615.058 đồng. Ngoài ra bị đơn còn phải tiếp trả lãi phát sinh bắt đầu từ ngày 20/8/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019 và Bảng điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về tiền lãi phát sinh từ tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 63; khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 117; Điều 463; Điều 465; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010
Căn cứ khoản 1 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
Buộc ông Nguyễn Đức T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 19/8/2024 là: 128.660.805 đồng (một trăm hai mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi nghìn, tám trăm lẻ năm đồng). Trong đó nợ gốc là: 54.045.000 đồng, N lãi quá hạn là: 74.615.058 đồng. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019. Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.
- Về án phí:
Ông Nguyễn Đức T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.433.040 (Sáu triệu bốn trăm ba mươi ba ngàn không trăm bốn mươi đồng).
Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí. H lại cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 2.540.000 đồng (Hai triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0028662 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Đức T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 27/4/2019 và bảng điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thức |
Bản án số 1631/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1631/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S với Nguyễn Đức T1
