Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/HS-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: bà Lê Kiều Mị - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Minh K, sinh ngày 19 tháng 01 năm 2002; tại: tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Kim T và bà Nguyễn Thị Tuyết H; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27 tháng 8 năm 2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)

- Các bị hại:

  • + Anh Lê Thành Ý, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp X, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  • + Anh Nguyễn Tuấn K1, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ, ngày 26 tháng 8 năm 2024, bị cáo Lê Minh K đi bộ vào Bệnh viện đa khoa tỉnh S tìm tài sản để lấy trộm. Khi vào trong bệnh viện, bị cáo K đi bộ lên tầng 7 thuộc khu A của bệnh viện thì nhìn thấy phòng điều dưỡng nam không khóa cửa, bên trong không có người nên K đi vào phòng lụt tìm tài sản lấy trộm. Kha mở ba lô của ông Lê Thành Ý lụt tìm tài sản thì phát hiện một chìa khóa xe loại Suzuki là chìa khóa của xe mô tô biển số 83P3-972.98 và một thẻ giữ xe nên bị cáo K nãy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này nên bị cáo K đi xuống nhà xe của nhân viên bệnh viện tại khu A để tìm xe và dùng chìa khóa vừa lấy được ghim lần lượt bốn chiếc xe nhãn hiệu Suzuki nhưng không đúng, đến chiếc xe thứ năm là xe mô tô biển số 83P3-972.98 thì mở khóa được. Do lúc này không có nón bảo hiểm nên bị cáo K lấy nón bảo hiểm của ông Nguyễn Tuấn K1 để trên xe đậu cạnh xe của anh Ý. K đội nón bảo hiểm rồi điều khiển xe chạy ra quầy kiểm soát thẻ giữ xe đưa thẻ giữ xe cho ông Nguyễn Thanh L là bảo vệ của bệnh viện. Sau khi ông L quét thẻ xong, bị cáo K điều khiển xe chạy ra khỏi bệnh viện, tìm chỗ nghỉ ngơi và bán xe. Khi bị cáo K điều khiển xe lưu thông trên đường T, Phường B, thành phố S thì bị Tổ công tác đặc biệt 123, Công an tỉnh S phát hiện bắt giữ bị cáo K và bàn giao bị cáo K cùng tang vật cho Công an P, thành phố S lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐG, ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại Satria, màu sơn: Xanh - đen, biển số 83P3-972.98, số máy: CGA11D182167, số khung: 11AZKJ182145, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 50%, với giá 27.700.000 đồng; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, phía sau có dòng chữ NÓN SƠN, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 40%, với giá 260.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 27.960.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra tạm giữ 01 (một) xe mô tô, biển số 83P3-972.98, nhãn hiệu Suzuki, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, phía sau có dòng chữ NÓN SƠN, đã qua sử dụng. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ và xử lý như sau: trả 01 (một) xe mô tô, biển số 83P3-972.98, nhãn hiệu Suzuki, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là ông Lê Văn T1; trả 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, phía sau có dòng chữ NÓN SƠN, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Tuấn K1.

Về trách nhiệm dân sự: các bị hại là ông Lê Thành Ý và ông Nguyễn Tuấn K1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 157/CT-VKS-TPST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Minh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lê Minh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh K từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: các bị hại là ông Lê Thành Ý và ông Nguyễn Tuấn K1 đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không đề cập xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Tại phiên toà: bị cáo Lê Minh K thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng theo như quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; bị cáo không có tranh luận với Kiểm sát viên và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt các bị hại anh Lê Thành Ý và Nguyễn Tuấn K1: thấy rằng, việc vắng mặt các bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại.

Về nội dung:

[3] Nhận thấy: trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Minh K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản xác định hiện trường và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh S bị cáo K đã lén lút lấy trộm 01 (một) xe mô tô, biển số 83P3-972.98, nhãn hiệu Suzuki do anh Lê Thành Ý quản lý, sử dụng có giá trị 27.700.000 đồng và 01 (một) nón bảo hiểm màu đen, phía sau có dòng chữ NÓN SƠN của anh Nguyễn Tuấn K1, có giá trị 260.000 đồng; tổng giá trị tài sản mà bị cáo K lấy trộm là 27.960.000 đồng. Cho nên, hành vi của bị cáo K đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 157/CT-VKS-TPST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Minh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.

[5] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, việc bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[6] Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[6.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

[6.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tiền án, tiền sự đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Nhận thấy, bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối chiếu với quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Nhận thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa chung tội phạm.

[8] Về trách nhiệm dân sự: các bị hại là ông Lê Thành Ý và ông Nguyễn Tuấn K1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không đề cập xử lý.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo là người bị kết án, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

[11] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên: về tội danh, việc áp dụng pháp luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự là phù hợp với quy định nên chấp nhận. Tuy nhiên, về đề nghị áp dụng hình phạt tù giam đới với bị cáo chưa đủ cơ sở chấp nhận như vừa phân tích tại mục [7].

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 135 và khoản 2 Điều 136, Điều 292 và khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Lê Minh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Xử phạt bị cáo Lê Minh K 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày 30 tháng 9 năm 2024.

Giao bị cáo Lê Minh K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Trả tự do cho bị cáo Lê Minh K ngay tại phiên toà.

  1. Về trách nhiệm dân sự: các bị hại là ông Lê Thành Ý và ông Nguyễn Tuấn K1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về xử lý vật chứng: trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không đề cập xử lý trong bản án này.
  3. Án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo Lê Minh K phải chịu là 200.000 đồng.
  4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; các bị hại anh Lê Thành Ý, anh Nguyễn Tuấn K1 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thành phố Sóc Trăng;
  • - Công an thành phố Sóc Trăng;
  • - CQTHAHS - Công an TPST;
  • - Đội Tổng hợp - Công an TPST;
  • - Chi cục THADS TPST;
  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 163/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Minh K phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger