Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/DS-PT

Ngày: 29/8/2024

Về việc: “Kiện đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Văn Nhum
Các Thẩm phán:Ông Phạm Tiến Hiệp
Bà Lê Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2024/TLPT-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc “Kiện đòi tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 224/2024/QĐXXPT-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1978, Địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Vũ Văn L, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ E, ấp E, xã N, thị xã C, tỉnh Bình Phước (có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị C, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ D, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước (có mặt).
  4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Vũ Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn B trình bày:

Ông Nguyễn Văn B có nhu cầu làm các thủ tục xin hiến tặng một phần quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 36, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY209281, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS 05098 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 05/02/2021 mang tên Nguyễn Văn B nên vào ngày 04/12/2021, ông Nguyễn Văn B ký kết Hợp đồng khoán việc cho ông Vũ Văn L thực hiện công việc làm thủ tục để xin hiến đất mở đường nông thôn cho thửa đất này. Để đảm bảo tính pháp lý, nên ngày 08/12/2021, ông Nguyễn Văn B ký kết Hợp đồng ủy quyền cho ông Vũ Văn L tại Văn phòng C1 theo giấy ủy quyền số 022798, quyển số 12/2021/TP/CC-SCC/HĐGD. Thỏa thuận giá thực hiện hợp đồng là 600.000.000 đồng, ngày 04/12/2021 ông B đã tạm ứng ông L số tiền 50.000.000 đồng, ngày 8/12/2021 ông B tạm ứng tiếp cho ông L số tiền 100.000.000 đồng, tổng là 150.000.000 đồng. Do không thực hiện được công việc ủy quyền nên ngày 19/10/2023 ông L ký cam kết trả lại ông B số tiền 150.000.000 đồng và ông L đã trả được số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại 100.000.000 đồng hẹn ngày 05/11/2023 sẽ trả lại nhưng đến nay ông L vẫn không trả. Do đó, ông B khởi kiện yêu cầu ông L trả cho ông B số tiền 100.000.000 đồng. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm, bị đơn ông Vũ Văn L trình bày:

Thông qua ông H, ông Vũ Văn L biết ông Nguyễn Văn B có nhu cầu mở đường đối với thửa đất ở huyện H nhưng không biết làm thủ tục nên ông B nhờ ông L hỏi giúp có quen biết ai thì giới thiệu. Ông L có biết ông Phạm Hồng Đ, sinh năm 1982 nhà ở Vũng Tàu nhưng không biết địa chỉ chính xác, nên giới thiệu ông Đ cho ông B để thỏa thuận gặp nhau để trao đổi thông tin. Sau khi thỏa thuận xong nội dung công việc và chi phí dịch vụ thì giữa ông Đ và ông B làm hợp đồng với nhau, ông B đưa cho ông Đ số tiền 150.000.000 đồng, ông L có mặt chứng kiến và ông L không nhận tiền của ông B. Do ông Đ ở xa và ông B cũng không biết ông Đ ở đâu nên ông B đề nghị ông L phải ký hợp đồng khoán việc và nhận ủy quyền để ông L chịu trách nhiệm trong trường hợp ông Đ không thực hiện được công việc do ông B yêu cầu, nên ông L mới thống nhất ký vào Hợp đồng khoán việc ngày 4/12/2021 và Hợp đồng ủy quyền ngày 8/12/2021. Khi ông Đ không thực hiện được công việc theo thỏa thuận thì ông B buộc ông L phải cam kết trả lại tiền cho ông B chứ ông B không biết ông Đ. Mặc dù ông L không bị ép buộc, đe dọa buộc phải ký vào giấy ngày 19/10/2023 cam kết trả lại cho ông B số tiền 100.000.000 đồng nhưng do theo hợp đồng khoán việc và hợp đồng ủy quyền thì ông L là người ký với ông B nên buộc phải ký vào giấy cam kết này cho xong, mục đích ông L ký giấy cam kết là sẽ hỗ trợ đòi ông Đ trả tiền lại cho ông B vì thực tế ông Đ là người nhận tiền chứ ông L không nhận tiền và ông L cũng không nhận công việc giao khoán này mà người thực hiện là ông Đ. Do vậy, ông Vũ Văn L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B.

Tại phiên toà phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trịnh Thị Công trình bày:

Bà là vợ của ông Nguyễn Văn B và số tiền ông B giao cho ông L là tiền chung của vợ chồng, bà thống nhất với phần trình bày và yêu cầu của ông B. Bà C yêu cầu ông L trả lại 100.000.000 đồng cho vợ chồng bà.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B về việc tranh chấp kiện đòi tài sản đối với ông Vũ Văn L,

Buộc Vũ Văn L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền 100.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về phần án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/6/2024 bị đơn ông Vũ Văn L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc nguyên đơn phải chịu án phí và các chi phí giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn Nguyễn Văn B, bị đơn Vũ Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trịnh Thị C đã tự thoả thuận giải quyết vụ án với nội dung: Ông Vũ Văn L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn B và bà Trịnh Thị C số tiền 50.000.000 đồng với thời hạn cuối là ngày 31/12/2024.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:

  • Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

  • Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo hướng ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự, buộc ông Vũ Văn L phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn B và bà Trịnh Thị C số tiền 50.000.000 đồng trong thời hạn là ngày 31/12/2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Vũ Văn L thực hiện trong thời hạn luật định; đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

  2. Xét kháng cáo bị đơn ông Vũ Văn L, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại phiên toà, các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, theo đó ông Vũ Văn L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn B và bà Trịnh Thị C số tiền 50.000.000 đồng với thời hạn cuối là ngày 31 tháng 12 năm 2024. Sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận, cần sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

  1. Về án phí:

    • Án phí dân sự sơ thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị sửa về phần nghĩa vụ trả nợ nên cần được tính lại, cụ thể ông Vũ Văn L phải chịu 5% x 50.000.000 đồng = 2.500.000 đồng.

    • Án phí dân sự phúc thẩm: Do các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm nên ông Vũ Văn L phải chịu.

  2. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

  1. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự ông Nguyễn Văn B, bà Trịnh Thị C và ông Vũ Văn L, với nội dung cụ thể như sau:

    Ông Vũ Văn L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn B và bà Trịnh Thị C số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) với thời hạn cuối là ngày 31 tháng 12 năm 2024.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí:

    • Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Văn L phải chịu 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    • Ông Nguyễn Văn B không phải chịu, được trả lại số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004125 ngày 13 tháng 3 năm 2024.

  3. Các quyết định khác của B1 sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - TAND thị xã Chơn Thành;
  • - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, TỔ HCTP, Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Văn Nhum

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 163/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger