|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 163/2023/HS-ST
Ngày 28-11 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thúy An - Thư ký Toà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 166/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 668/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế H, sinh năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số B H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế Đ (đã chết) và bà Vương Thụy K; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Tháng 9/2019 Tòa án nhân dân quận Lê Chân Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tháng 9/2021 trở về địa phương (chưa xóa); nhân thân: Tháng 3/2017 Tòa án nhân dân quận Lê Chân Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đã xóa); Ngày 24/7/2023 Tòa án nhân dân quận Lê Chân Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 29/QĐ-TA ngày 24 tháng 7 năm 2023 với thời gian là 18 tháng; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2023; có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thị H1; ĐKNKTT: Xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Số A P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/6/2023, Nguyễn Thế H đi bộ một mình vào bệnh viện H2 với mục đích xem ai sơ hở sẽ trộm cắp tài sản. Khi đến phòng số 213, tầng B, nhà I thấy trong phòng chỉ có một cụ bà đang nằm ngủ trên giường bệnh, đầu giường có 01 túi xách màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 8 Pro màu đen của chị Trần Thị H1, sinh năm 1975, trú tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An (là con gái cụ bà). Lợi dụng lúc chị H1 đi ra ngoài, cụ bà đang ngủ, không có ai trông coi. H đi vào phòng, dùng tay phải cầm điện thoại cùng túi xách đi ra đến cửa thì gặp chị H1 đi vào phát hiện. H lách qua chị H1 bỏ chạy làm rơi túi xách xuống sàn nhà, trên tay phải H vẫn cầm điện thoại. Thấy H bỏ chạy chị H1 đuổi theo và hô hoán. Khi chạy đến gần cổng chính bệnh viện H2 thì H bị quần chúng nhân dân bắt giữ, bàn giao H cùng tang vật gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note8 Pro màu đen có 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu đen, 01 túi xách màu đen có dây đeo bên trong có 350.000 đồng và 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thị H1 cho Công an phường C giải quyết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản quận L kết luận: “Giá trị được định giá của 01 chiếc điện thoại đã qua sử dụng, nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note8 Pro, màu đen, có Imei: 868909046468727 tương đương là 2.150.000 đồng; Hội đồng không định giá đối với 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu đen đã qua sử dụng; Hội đồng không định giá đối với 01 túi xách màu đen, có quai đeo bằng kim loại màu trắng dạng dây xích đã qua sử dụng, kích thước 15x25cm".
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thế H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên.
Tại cơ quan điều tra bị hại chị Trần Thị H1 khai: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 04/6/2023 khi đi lấy nước cho người nhà đang nằm điều trị tại bệnh viện V, chị có để 01 túi xách màu đen, trong có số tiền 350.000 đồng; 01 căn cước công dân mang tên chị H1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note8 Pro màu đen trong phòng 213 dãy nhà I của bệnh viện. Sau đó chị thấy có 01 nam thanh niên đi vào trong phòng. Chị thấy vậy đi về phòng thì thấy nam giới tay cầm điện thoại và túi xách của chị đi ra khỏi phòng, chị dùng tay giữ lại nhưng do trượt ngã, chiếc túi rơi ngay tại cửa phòng còn nam giới cầm điện thoại của chị bỏ chạy. Chị H1 đuổi theo xuống tầng I và hô to, nam giới trên đã bị bắt giữ lại. Chị H1 có ý kiến chiếc túi xách chị mua từ lâu, đến nay đã cũ nên không còn giá trị. Đến nay chị đã nhận lại toàn bộ tài sản H chiếm đoạt, chị không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note8 Pro màu đen, 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu đen, 01 túi xách màu đen có dây đeo bên trong có 350.000 đồng và 01 Căn cước công dân mang tên Trần Thị H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trả lại cho chị Trần Thị H1.
Tại Cáo trạng số 171/CT-VKSLC ngày 31/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thế H và đề nghị Hội đồng xét xử : Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h; điểm i; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thế H mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Do bị cáo không có việc làm và không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị H1 đã nhận lại tài sản mà H chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện cơ bản đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào hồi 12 giờ ngày 04/6/2023tại phòng số 213, Tầng B, nhà I bệnh viện H2, Nguyễn Thế H lợi dụng trong phòng bệnh không có người nhà trông coi đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Trần Thị H1 gồm 01 chiếc túi xách đã qua sử dụng trong có số tiền 350.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên chị Trần Thị H1, 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 8 Pro màu đen trị giá 2.150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà H chiếm đoạt của chị H1 là 2.500.000 đồng, sau đó bị bắt giữ, do đó hành vi của bị cáo thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; thiệt hại gây ra cho bị hại là không lớn. Vì vậy Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nhân thân mặc dù chưa có tiền án, nhưng đã có 02 tiền sự, trong đó có 01 tiền sự đến nay chưa được xóa. Bị cáo hiện đang là đối tượng nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, qua đó cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian trên mức đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ tác dụng răn đe, cải tạo đối với bị cáo và cũng là tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện, hiện không có việc làm và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị H1 đã nhận lại đủ số tiền 350.000 đồng, 01 túi xách, 01 điện thoại di động cũng như căn cước công dân mà bị cáo đã chiếm đoạt, nay chị H1 không còn yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Thế H 12 ( Mười hai ) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ khoản 4 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Thế H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 163/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 163/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế Hoàng tội " Trộm cắp tài sản"
