Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

———————

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 163/2023/HSST

Ngày 27/12/2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Duệ.

Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Dương Đắc Hà.

2/ Bà Dương Thị Kim Lan.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Mỹ – Thư ký Toà án ND huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà:

Bà Đỗ Thị Thùy Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 162/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Minh T, sinh năm 1972; Nơi ĐKHKTT: thôn A, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: thôn T, xã H, huyện M, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Văn T1; Con bà Bùi Thị H; gia đình có bị cáo là con duy nhất; Vợ là Nguyễn Thị Đ; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2005. Theo danh chỉ bản số 396 ngày 16/9/2023 của Công an huyện M và trích lục tiền án, tiền sự số 6181339/2023/PV06 ngày 26/9/2023 của phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố H thì: Bị cáo không có tiền án; không có tiền sự; Về nhân thân: Bị cáo có 4 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 83/HSST ngày 09/10/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Bản án số 38/2009/HSST ngày 17/6/2009, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt 36 tháng tù về tội Chứa mại dâm; Bản án số 08/2016/HSST ngày 29/02/2016, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bản án số 97/2019/HSST ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tạm giữ: từ ngày 12/9/2023 đến ngày 15/9/2023; Tạm giam: từ ngày 15/9/2023 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hải Đ1, sinh năm 1965. Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 10 giờ 45 phút ngày 12/9/2023, tổ công tác Công an xã M phối hợp với Công an xã T, huyện M đã phát hiện bắt quả tang Đỗ Minh T, sinh năm 1972; trú tại thôn A, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; chỗ ở: thôn T, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội đang có hành vi bán trái phép chất ma túy tại thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng liên quan và đưa về trụ sở để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra T khai: Sáng ngày 10/9/2023, Đỗ Minh T một mình đi xe buýt lên khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên gặp một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, tuổi, địa chỉ) hỏi và mua được 01 gói ma tuý Heroine với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T cất giấu vào người rồi đi về. Về đến nhà, T lấy gói ma tuý vừa mua được ra chia làm 03 gói ma tuý nhỏ. Từ ngày 10/9/2023 đến sáng ngày 12/9/2023, T sử dụng hết 02 gói ma tuý, còn lại 01 gói ma túy. Đến khoảng 10 giờ 15 phút ngày 12/9/2023, T đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số 0967.465.xxx của Nguyễn Hải Đ1, sinh năm 1965; trú tại thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội gọi vào số điện thoại 0964.327.xxx của T hỏi mua 01 gói ma tuý Heroine với giá 300.000 đồng thì T đồng ý. T hẹn Đ1 đi đến đê thuộc thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội để giao dịch mua bán ma tuý. Sau đó, T cất giấu 01 gói ma tuý Heroine tại túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi đến điểm hẹn; Nguyễn Hải Đ1 rủ bạn là Nguyễn Quang H1, sinh năm 1981; trú tại xóm A, thôn N, xã C, huyện M, thành phố Hà Nội đi cùng đến điểm hẹn. Khi hai bên gặp nhau, do Đ1 nói sẽ trả tiền sau nên T không đồng ý bán ma túy cho Đ1; T nói có tiền mới bán ma túy nên Đ1 hẹn lát nữa sẽ quay lại lấy ma túy. Sau đó, Đ1H1 đi về, còn T đi đến quán bán hoa quả thì bị Công an xã M phối hợp với Công an xã T, huyện M phát hiện bắt quả tang.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • - Thu giữ của Đỗ Minh T: 01 gói giấy màu trắng, chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy; 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh dương, số IMEI1: 359735191788387, số IMEI2: 359735191699402, bên trong máy lắp thẻ sim số 0964327861 và số tiền 500.000 đồng.
  • - Thu giữ của Nguyễn Hải Đ1: 01 điện thoại Mobell, màu đen, số Imei 1: 810153600032549, số Imei 2: 810154600032549, bên trong lắp thẻ sim số 0967465934.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Minh T; ở thôn T, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội, cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 6209/KL - KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,120 gam. Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã lấy 0,018 gam chất ma túy loại Heroine làm mẫu giám định, phần còn lại gồm 0,102 gam chất ma túy loại Heroine cùng toàn bộ bao gói hoàn trả cơ quan điều tra để xử lý theo quy định pháp luật. Toàn bộ số vật chứng nêu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với Nguyễn Hải Đ1 là người mua ma túy của Đỗ Minh T: Quá trình điều tra xác định, Đ1 là đối tượng nghiện, mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên, Đ1 chưa kịp nhận ma túy thì bị phát hiện. Do vậy, không có căn cứ để xử lý Nguyễn Hải Đ1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với Nguyễn Quang H1 là người đi cùng Nguyễn Hải Đ1 đến điểm hẹn gặp Đỗ Minh T để trao đổi mua bán ma túy: Quá trình điều tra xác định Nguyễn Quang H1 không biết việc Đ1 đi đến gặp T để trao đổi mua bán ma túy, H1 không bàn bạc, thống nhất gì với Đ1T về việc mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đỗ Minh T tại khu vực thành phố P, tỉnh Thái Nguyên: Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số 167/CT.VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố Đỗ Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Đỗ Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng số 167/CT.VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Đỗ Minh T từ 27 tháng đến 30 tháng tù.
  • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,102 gam chất ma túy loại Heroine; Trên các mép niêm phong có chữ ký của bị cáo và người có liên quan.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh dương, số IMEI1: 359735191788387, số IMEI2: 359735191699402, bên trong máy lắp thẻ sim số 0964327861; 01 điện thoại Mobell, màu đen, số Imei 1: 810153600032549, số Imei 2: 810154600032549, bên trong lắp thẻ sim số 0967465934.
  • + Trả lại bị cáo số tiền 500.000 đồng.
  • - Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo Đỗ Minh T khai nhận có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án; phù hợp với ý kiến phát biểu, lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa và phù hợp với nội dung vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 12/9/2023, T đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số 0967.465.xxx của Nguyễn Hải Đ1 gọi vào số điện thoại 0964.327.xxx của T hỏi mua 01 gói ma tuý Heroine với giá 300.000 đồng thì T đồng ý; T hẹn Đ1 đi đến đê thuộc thôn D, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội để giao dịch mua bán ma tuý. Sau đó, T cất giấu 01 gói ma tuý Heroine tại túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi đến điểm hẹn; Nguyễn Hải Đ1 rủ bạn là Nguyễn Quang H1 đi cùng đến điểm hẹn. Khi hai bên gặp nhau, do Đ1 nói sẽ trả tiền sau nên T không đồng ý bán ma túy cho Đ1; T nói có tiền mới bán ma túy nên Đ1 hẹn lát nữa sẽ quay lại lấy ma túy. Sau đó, Đ1H1 đi về; còn T đi đến quán bán hoa quả thì bị Công an xã M phối hợp với Công an xã T, huyện M phát hiện bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số 6209/KL - KTHS ngày 19/9/2023 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,120 gam. Hành vi của bị cáo Đỗ Minh T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều khoản này quy định “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

[3] Hành vi bán trái phép ma túy loại Heroin của bị cáo Đỗ Minh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và còn là mầm mống gây nên căn bệnh thế kỷ HIV và các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo không chịu làm ăn lại muốn có tiền thu lời từ việc bán ma túy; ý thức của bị cáo là coi thường pháp luật nên cố tình phạm tội. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc.

[4] Về nhân thân và tiền án, tiền sự:

  • - Về tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo có 4 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 83/HSST ngày 09/10/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bản án số 38/2009/HSST ngày 17/6/2009, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt 36 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”; Bản án số 08/2016/HSST ngày 29/02/2016, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bản án số 97/2019/HSST ngày 26/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhưng vẫn phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần vào đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Xét thấy: Bị cáo không có việc làm và không có thu nhập ổn định; vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 niêm phong bên trong có 0,102 gam chất ma túy loại Heroine; Trên các mép niêm phong có chữ ký của bị cáo và người có liên quan là vật chứng vụ án; nhà nước cấm tàng trữ, cấm mua bán nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh dương, số IMEI1: 359735191788387, số IMEI2: 359735191699402, bên trong máy lắp thẻ sim số 0964327861 thu của T; 01 điện thoại Mobell, màu đen, số Imei 1: 810153600032549, số Imei 2: 810154600032549, bên trong lắp thẻ sim số 0967465934 thu của Đ1, đã qua sử dụng, dùng để gọi, nghe mua bán ma túy; được xác định là phương tiện phạm tội, nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Số tiền 500.000 đồng, thu của bị cáo; không sử dụng vào việc mua bán ma túy; là tiền của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Đỗ Minh T 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 12/9/2023.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,102 gam chất ma túy loại Heroine; Trên các mép niêm phong có chữ ký của bị cáo và người có liên quan.
  • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh dương, số Imei 1: 359735191788387, số Imei 2: 359735191699402, bên trong máy lắp thẻ sim số 0964327861; 01 điện thoại Mobell, màu đen, số Imei 1: 810153600032549, số Imei 2: 810154600032549, bên trong máy lắp thẻ sim số 0967465934.
  • - Trả lại bị cáo số tiền 500.000 đồng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/12/2023 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh).

- Áp dụng: Khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mục 1 phần I; Tiểu mục 1.1 mục 1 phần II của danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

- Áp dụng: Điều 331, 334 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án vắng mặt; người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan.

Nơi nhận:

  • - VKS Mê Linh.
  • - Công an Mê Linh.
  • - Thi hành án Mê Linh
  • - Tòa án Hà Nội.
  • - Bị cáo.
  • - Lưu hồ sơ
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Huy Duệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 163/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phát: Đỗ Minh T - 27 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger