Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 163/2023/HS-ST

Ngày 27 tháng 10 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tú

Bà Nguyễn Thị Nhơn

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại Phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 180/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phan Thị Kiều L; sinh năm 2004; Giới tính: Nữ; Nơi sinh: Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Chỗ ở hiện nay: 181 Quốc lộ A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Họ tên cha: Phan Lý Y, sinh năm 1984; Họ tên mẹ: Bùi Thị Thanh T, sinh năm 1989; A, chị, em: Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là người thứ 01 trong gia đình; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: tạm giam từ ngày 13/5/2023 đến ngày 11/7/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Những người tham gia tố tụng:

  1. Bị hại: Chị Bùi Thùy L1
    Địa chỉ: B N, phường G, quận P, TP .
  2. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có
    (Bị cáo có mặt; bị hại vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 02/2023, Phan Thị Kiều L được bạn là Trần Phạm Tuyết N cho ở nhờ chung phòng trọ tại số B C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để đi học tại Trường Đại học Công nghệ thông tin Thành phố H. Trong quá trình ở chung với N thì L biết tại gờ tường bên phải gần cửa hầm nhà trọ luôn để 01 chìa khóa từ để mở cửa hầm để xe. Đến cuối tháng 02/2023, L chuyển sang thuê phòng trọ ở cùng bạn trai là Đặng Cao Hoàng S tại nhà trọ số 181 Quốc lộ A, Phường B, quận B. Trong thời gian đi học, L đi làm thêm tại Công ty M tại số A B, Phường A, Quận B để trang trải cuộc sống và tiền học.

Khoảng giữa tháng 4/2023, trong lúc đi làm thì L vô tình làm rớt bể máy Laptop của một người khách nữ (không rõ lai lịch), người này yêu cầu L bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. L đã vay mượn bạn bè để bồi thường cho người này nhưng sau đó L không có khả năng trả lại số tiền trên nên đã nảy sinh ý định đến nhà trọ số B C, Phường A, quận B tìm tài sản sơ hở để trộm cắp tài sản bán lấy tiền trả nợ. Để thực hiện ý định, khoảng 14 giờ 30 ngày 09/5/2023, L mượn điện thoại của S đặt xe trên ứng dụng Be để đi đến nhà trọ số B C, Phường A, quận B. Đến đây, L đứng trước cửa nhà trọ và đợi khoảng 10 phút thì thấy có 01 người ở trọ (không rõ lai lịch) mở cửa hầm để xe đi vào nên L đi theo phía sau người này để lẻn vào trong. Sau khi vào hầm để xe, L nhìn thấy trong hộp để đồ bên trái đầu xe gắn máy Honda Vision màu đỏ biển số 14B1 - 645.56 của chị Bùi Thùy L1 có để chìa khóa xe nên L1 lấy trộm dắt xe trên đi ra gần tới cửa hầm rồi lấy chìa khóa từ để ở gờ tường bên phải mở cửa hầm và nổ máy xe tẩu thoát. L1 điều khiển xe vừa trộm đến bãi xe số 153/20 Q, Phường B, Quận B gửi tại đây rồi L1 đi về phòng trọ của S. Đến sáng ngày 11/5/2023, L1 sử dụng điện thoại Iphone 13 Promax đăng bán xe gắn máy đã trộm được lên mạng xã hội Facebook thì có tài khoản tên “Thu D” liên hệ mua xe, L1 chào bán với giá 10.200.000 đồng thì người này hẹn gặp xem xe và cho L1 số điện thoại 0346.475.xxx để liên lạc. L1 hẹn gặp người này tại bãi xe số 153/20 Q, Phường B, Quận B để xem xe. Đến khoảng 16 giờ 20 cùng ngày, có 02 người thanh niên (không rõ lai lịch) chạy xe gắn máy đến trước bãi trên gặp L1, L1 vào bãi xe lấy ra xe gắn máy Honda Vision màu đỏ biển số 14B1 - 645.56 cho 02 người này xem. Sau khi xem xe, 02 người này thỏa thuận mua xe với giá 8.500.000 đồng thì L1 đồng ý rồi đưa cho L1 500.000 đồng tiền mặt và còn lại số tiền 8.000.000 đồng thì chuyển vào tài khoản ngân hàng M1 số [...] của L1. Số tiền 8.500.000 đồng từ việc bán xe trộm cắp thì L1 đã trả nợ hết.

Ngày 12/5/2023, chị Bùi Thùy L1 đến Công an Phường 12 quận B trình báo sự việc bị mất trộm xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 14B1-645.56. Qua xác minh, Công an quận B mời Phan Thị Kiều L về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Phan Thị Kiều L đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số: 95/KLĐGTS-TCKH ngày 29/05/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 14B1-645.56 trị giá 20.000.000 đồng.

+ Vật chứng:

  • 01 USB chứa dữ liệu camera ghi hình Phan Thị Kiều L thực hiện hành vi trộm cắp xe gắn máy Honda Vision biển số 14B1-645.56 vào ngày 09/5/2023 tại nhà số B C, Phường A, Quận B.
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 14B1-645.56, Cơ quan điều tra hiện chưa thu hồi được. Qua xác minh được biết xe trên do chị Bùi Thùy L1 đứng tên chủ sở hữu.
  • 01 áo nỉ chui đầu dài tay có mũ màu xám, 01 áo khoác dài tay màu đen có khóa kéo, 01 quần dài jean bạc màu có vết rách ở đầu gối. Đây là trang phục mà L1 mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu xanh gắn sim số 0928521211, là điện thoại của bà Bùi Thị Thanh T là mẹ ruột của L1. Bà T mua điện thoại trên rồi cho L1 mượn để sử dụng phục vụ học tập, sau đó L1 lắp sim số 0928521211 vào máy sử dụng. Ngày 11/5/2023, L1 sử dụng điện thoại này liên lạc giao dịch bán xe trộm cắp được, sự việc này thì bà T hoàn toàn không biết. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu xanh cho bà T là chủ sở hữu
  • 01 sim số 0928521211 là sim mà L1 sử dụng liên lạc giao dịch bán xe trộm cắp.

+ Trách nhiệm dân sự: Gia đình Phan Thị Kiều L đã khắc phục, bồi thường cho chị Bùi Thùy L1 số tiền 22.000.000 đồng. Chị L1 không có yêu cầu gì khác và có Đơn xin bãi nại cho Phan Thị Kiều L.

Tại bản cáo trạng số: 179/CT-VKSBTh ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Phan Thị Kiều L về tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Thị Kiều L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Quá trình điều tra bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình .. hoặc các hành vi khác để buộc bị cáo khai không đúng sự thật khách quan của vụ án. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt khi được nói lời nói sau cùng.

Bị hại chị Bùi Thùy L1 vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên tòa hợp lệ, qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện, bị hại đã được ghi nhận đầy đủ ý kiến trong hồ sơ vụ án, đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 14B1-645.56 bị mất không thu hồi được gia đình bị cáo đã khắc phục, bồi thường cho bị hại chị Bùi Thùy L1 số tiền 22.000.000 đồng. Bị hại chị L1 không có yêu cầu gì khác và có đơn xin bãi nại cho Phan Thị Kiều L. Do vậy, việc vắng mặt bị hại tại phiên tòa không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp, cũng như không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thị Kiều L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phan Thị Kiều L mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù;

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Kiều L khai nhận đã thực hiện các hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, lời khai của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản hỏi cung bị can, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do thiếu tiền tiêu sài cho mục đích cá nhân nên bị cáo Phan Thị Kiều L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản từ trước, vào khoảng 14 giờ 30 phút tại nhà trọ số B C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Phan Thị Kiều L lẽn vào trong hầm gửi xe, quan sát không có người trông coi, bị cáo thấy 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 14B1-645.56 còn để chìa khóa trong hộp để đồ bên trái đầu xe, bị cáo đã lén lút dắt trộm xe ra bên ngoài, mở cửa hầm để xe và nổ máy xe tẩu thoát. Đến ngày 11/5/2023 bị cáo đăng bán xe trên thông qua mạng xã hội Facebook cho hai đối tượng không rõ lai lịch được 8.500.000 đồng, bị cáo đã tiêu sài cho mục đích cá nhân hết. Bị cáo Phan Thị Kiều L thực hiện hành vi phạm tội một cách cố ý, việc bắt giữ được bị cáo nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, tội phạm đã hoàn thành.

[4] Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 95/KLĐGTS-TCKH ngày 29/05/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 14B1-645.56 trị giá 20.000.000 đồng. Như vậy, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trong vụ án này là 20.000.000 đồng.

[5] Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phan Thị Kiều L đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về hành vi phạm tội như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[6] Bị cáo Phan Thị Kiều L là người đã trưởng thành, có đủ nhận thức về quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên vì muốn có tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 14B1-645.56 trị giá 20.000.000 đồng của bị hại chị Bùi Thùy L1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo vì động cơ tư lợi nên đã cố ý phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả.

[7] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có

[8] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phan Thị Kiều L có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đại diện gia đình bị cáo đã thay mặt bị cáo bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 22.000.000 đồng, bị hại có đơn bãi nại giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hiện nay bị cáo là sinh viên đang theo học Đại học Công nghệ Thành phố H. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[9] Bị cáo Phan Thị Kiều L bị bắt tạm giam để điều tra từ ngày 13/5/2023 đến ngày 11/7/2023 được thay đổi biên pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hội đồng xét xử xét thấy trong khoảng thời gian tạm giam này, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình đã gây ra cho bị hại, bị cáo cam kết sẽ không bao giờ tái phạm. Đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại.

[10] Hiện nay bị cáo Phan Thị Kiều L có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo hiện là sinh viên năm 2 Trường Đại học Công Nghệ Thành phố H - H, quá trình được tại ngoại điều tra bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật tại địa phương và không có vi phạm pháp luật nào khác. Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, kết hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật, nhằm giáo dục là chính. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao về chính quyền địa phương, giám sát giáo dục là phù hợp với chính sách nhân đạo của pháp luật, cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Ngoài ra cũng nhằm tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục học tập tại Trường Đại học Công Nghệ Thành phố H - H.

[11] Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù ra theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo hiện nay là sinh viên chưa có việc làm, không có thu nhập, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[12] Đối với Đặng Cao Hoàng S khai nhận không bàn bạc trước với L, cũng không biết việc L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, phù hợp với lời khai của L nên không có căn cứ xử lý Đặng Cao Hoàng S.

Đối với các đối tượng (Không rõ lai lịch) đã mua lại xe gắn máy do L trộm cắp được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy tìm, xác minh làm rõ xử lý sau.

[13] Về xử lý vật chứng:

  • 01 USB chứa dữ liệu camera ghi hình Phan Thị Kiều L thực hiện hành vi trộm cắp xe gắn máy Honda Vision biển số 14B1-645.56 vào ngày 09/5/2023 tại nhà số B C, Phường A, Quận B. Đây là vật chứng của vụ án, do đó Hội đồng xét xử tuyên lưu theo hồ sơ vụ án.
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 14B1-645.56, Cơ quan điều tra hiện chưa thu hồi được. Qua xác minh được biết xe trên do chị Bùi Thùy L1 đứng tên chủ sở hữu, do đó Hội đồng xét xử không xét.
  • 01 áo nỉ chui đầu dài tay có mũ màu xám, 01 áo khoác dài tay màu đen có khóa kéo, 01 quần dài jean bạc màu có vết rách ở đầu gối. Đây là trang phục mà L1 mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp. Đây không phải là vật chứng của vụ án, tuy nhiên trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, nhằm nhận diện bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án, không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu xanh gắn sim số 0928521211, là điện thoại của bà Bùi Thị Thanh T là mẹ ruột của L1. Bà T mua điện thoại trên rồi cho L1 mượn để sử dụng phục vụ học tập, sau đó L1 lắp sim số 0928521211 vào máy sử dụng. Ngày 11/5/2023, L1 sử dụng điện thoại này liên lạc giao dịch bán xe trộm cắp được, sự việc này thì bà T hoàn toàn không biết. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128GB màu xanh cho bà T là chủ sở hữu. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.
  • 01 sim số 0928521211 là sim mà L1 sử dụng liên lạc giao dịch bán xe trộm cắp, là vật chứng bị cáo dùng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

[14] Trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Phan Thị Kiều L đã khắc phục, bồi thường cho bị hại chị Bùi Thùy L1 số tiền 22.000.000 đồng. Chị Bùi Thùy L1 không có yêu cầu bồi thường trách nhiệm gì khác, do đó Hội đồng xét xử không xét.

[15] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Phan Thị Kiều L 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 27/10/2023.

    Giao bị cáo Phan Thị Kiều L cho Ủy ban nhân dân phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phan Thị Kiều L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  2. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
    • Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 áo nỉ chui đầu dài tay có mũ màu xám, 01 áo khoác dài tay màu đen có khóa kéo, 01 quần dài jean bạc màu có vết rách ở đầu gối; 01 sim số 0928521211.
    • Tuyên lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB chứa dữ liệu camera ghi hình Phan Thị Kiều L thực hiện hành vi trộm cắp xe gắn máy Honda Vision biển số 14B1-645.56 vào ngày 09/5/2023.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 16 giờ 00 phút, ngày 18/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

    (Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo rõ).

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND, CA quận Bình Thạnh;
  • - Chi cục THA Dân sự Q.BT;
  • - THA HS;
  • - PC.27 Công an Tp. HCM;
  • - Trại giam;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 163/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Kiều L - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger