Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27/8/2024

“V/v Kiện chia tài sản sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Viết Thống
  2. Bà Nguyễn Thị Tạc

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Vi là Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 360/2023/TLST-HNGĐ ngày 8 tháng 5 năm 2023 về việc “Kiện chia tài sản sau ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXX-ST ngày 15/7/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 123/2023/QÐST-HNGĐ ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1958 (có mặt)

Địa chỉ: A Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

Đại diện theo ủy quyền: Bà Đặng Thanh Q (có mặt)

Địa chỉ: 1 N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Bị đơn: Bà Phạm Thị Lan P, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: B Block B, Chung cư B, F P, phường D, Thị xã D, tỉnh Bình Dương

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Anh V (có mặt)

Địa chỉ: D L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Xuân H (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Block B, Chung cư Bcons Garden, 25A Phạm Hữu Lầu, phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương

  1. Bà Phạm Thị Tuyết N (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Chung cư V, D G, phường C, quận F, thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Phạm Thị Lan P: Luật sư Lại Nam H1 - Văn phòng L, đoàn Luật sư Đ (có mặt)

Địa chỉ: 1 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đặng Thanh Q trình bày:

Ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị Lan P kết hôn ngày 19/01/1994; ngày 29/4/2010 bà Phạm Thị Lan P làm Đơn ly hôn đến TAND thành phố Buôn Ma Thuột; ngày 06/9/2010 TAND thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành Bản án số 65/2010/HNGĐ-ST về việc ly hôn giữa bà Phạm Thị Lan P và ông Phạm Xuân T, trong Bản án quyết định về tài sản chung các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình chung sống, ông T và bà P có tạo lập được một số tài sản chung. Sau khi bà Phạm Thị Lan P làm đơn ly hôn thì ngày 24/5/2010 ông T và bà P đã lập Bản thỏa thuận phân chia tài sản sau ly hôn. Trong Bản thỏa thuận có nhiều tài sản chung, ông T và bà P đã thỏa thuận chia cho hai người được sở hữu, sử dụng các tài sản cụ thể. Đối với thửa đất và tài sản gắn liền trên đất ở số A A, phường T, Tp B, tỉnh Đăk Lăk (nguồn gốc từ việc nhận chuyển nhượng của ông Phạm Ngọc Q1 ngày 20/5/1997) hai bên thống nhất giao cho ông Phạm Xuân T toàn quyền quản lý, sử dụng; thời điểm này thửa đất trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tháng 6/2010, ông T liên hệ cơ quan có thẩm quyền để xin đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ngày 09/11/2010 thì UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 783661 đối với thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Phường T, Tp., diện tích:514,2m2 đứng tên Phạm Xuân TPhạm Thị Lan P. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T đã yêu cầu bà Phạm Thị Lan P thực hiện thủ tục sang tên Giấy chứng nhận cho ống Tạo theo đúng thỏa thuận nhưng bà P cố tình không thực hiện. Trong khi đó ông T đã thực hiện ký kết sang tên các tài sản khác cho bà P theo đúng thỏa thuận của hai bên.

Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của mình, ông T làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông T, giao tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại A Y, phường T, TP B, tỉnh Đăk Lăk, thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Phường T, Tp ., diện tích: 514,2m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 783661 cho ông Phạm Xuân T quản lý, sử dụng theo đúng nội dung Biên bản thỏa thuận ngày 24/5/2010 giữa ông T và bà Phạm Thị Lan P.

2. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Anh V trình bày:

Ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị Lan P đăng ký kết hôn tại UBND xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk, ngày 19/01/1994. Ngày 06/9/2010, bà P, ông T ly hôn theo Bản án số 65/2010/HNGĐ-ST của Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột. Trong quá trình chung sống có 02 người con chung là Phạm Thị Tuyết N - Sinh năm 1994 và Phạm Xuân H - Sinh năm 2002.

Ngày 24/5/2010, bà P, ông T tự lập Bản thỏa thuận về việc chia các sản trước khi ly hôn. Đến ngày 04/11/2010, bà P, ông Tạo lập Văn bản thoả thuận chia tài sản sau ly hôn, số công chứng 2486 quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Trong các bản thỏa thuận này, ngoài việc phân chia tài sản mà cả hai cùng tạo lập trong quá trình sống chung còn có một số nghĩa vụ ông T phải thực hiện đối với các con là đóng Bảo hiểm nhân thọ hằng năm. Ông T còn phải có nghĩa vụ trả các khoản nợ là số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu) mượn của Anh Phạm Thanh H2; số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu) vay của B. Tổng số tiền nợ ông T phải trả là 250.000.000 đồng (bà P đã thực hiện trả nợ xong) và tiền đóng bảo hiểm cho các con. Tuy nhiên, ông T không thực hiện các nghĩa vụ này, không đóng bảo hiểm cho các con và cũng không trả nợ. Theo các bản thỏa thuận bà P được chia QSDĐ đối với thửa đất số: 422, tờ bản đồ số: 07; địa chỉ tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; diện tích: 356m² theo GCN QSDĐ số B 148253 do UBND huyện C cấp ngày 28/9/1993. Thửa đất này bà P đã bán với giá 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu). Số tiền này bà P đã dùng để trả nợ và số còn lại bà P đã dùng để trả một phần tiền mua căn nhà tại chung cư H..

Việc ông Phạm Xuân T khởi kiện yêu cầu chia tài sản theo bản thoả thuận lập ngày 24/5/2010 mà không xem xét tới phần nghĩa vụ mà ông T phải thực hiện với các con là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các con. Do đó, tự ông T đã vi phạm thỏa thuận nên bản thỏa thuận đó không có giá trị pháp lý. Nên yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân T thì bà Phạm Thị Lan P không đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản này theo quy định của pháp luật.

3. Người liên quan Ông Phạm Xuân H và bà Phạm Thị Tuyết N trình bày:

Chúng tôi là con ruột của Ông Phạm Xuân TBà Phạm Thị Lan P. Từ năm 2007, trong quá trình chung sống, ba mẹ tôi thường xảy ra mâu thuẫn, tình trạng ngày càng nghiêm trọng không thể hoà hợp được. Ngày 06/9/2010, ba mẹ chúng tôi ly hôn tại Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột. Tại thời điểm ba mẹ tôi ly hôn, chúng tôi có được biết về việc ba mẹ tôi đã thoả thuận chia tài sản chung trong quá trình chung sống với nhau, nhà và công ty giao lại cho ba tôi để làm ăn trả nợ và đóng tiền bảo hiểm hằng năm cho gia đình tôi. Tuy nhiên sau đó, ba tôi đã không đóng bảo hiểm đầy đủ cho cả nhà như đã hứa mà mẹ tôi – bà Phạm Thị Lan P đã đứng ra để trang trải các chi phí này. Mẹ tôi nói số tiền bảo hiểm đó quá sức với mẹ tôi nên duy trì được một thời gian thì mẹ tôi huỷ bớt 02 cái, chỉ giữ lại 05 cái cho 2 chị em tôi và mẹ. 3 hợp đồng đã đáo hạn khi chị em tôi đủ 18 tuổi là 023-131163, 023-29583 và 006-32054. Hiện nay còn 02 hợp đồng 041-4133 và 041-17980 của tôi và mẹ, mẹ tôi vẫn đang tiếp tục đóng. Việc ba tôi khởi kiện yêu cầu mẹ tôi phải thực hiện theo thoả thuận chuyển lại đất tại số A Y, P. T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk là không đúng. Bởi lẽ ba tôi đã không thực hiện đầy đủ phần nghĩa vụ của mình như đã thỏa thuận trước đó với mẹ, khiến cho cuộc sống của mẹ và tôi gặp nhiều khó khăn trong những năm qua và việc này cũng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chị em tôi. Do vậy, chúng tôi đề nghị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột phân chia tài sản của ba mẹ tôi theo quy định pháp luật.

4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Phạm Thị Lan P trình bày:

Việc ông Phạm Xuân T khởi kiện yêu cầu Toà án giao căn nhà và đất tại số A Y, P. T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk là không đúng, ông T đã vi phạm văn bản thoả thuận phân chia tài sản ngày 24/5/2010 và ngày 4/11/2010, do vậy văn bản không còn giá trị pháp lý. Tôi đề nghị HĐXX phân chia cho bà Phạm Thị Lan P 35% trị giá tài sản trên.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột phát biểu như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của BLTTDS, tại phiên tòa HĐXX và các đương đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 27; Điều 29; Điều 95; Điều 97; Điều 98 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi.

Đề nghị HĐXX: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Phạm Xuân T.

Chia cho ông Phạm Xuân T tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Phường T, thành phố B, diện tích 514,2m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 783661, quản lý, sử dụng.

Về án phí: Ông Phạm Xuân T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Kiện tranh chấp chia tài sản sau ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân TP Buôn Ma Thuột theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Ông Phạm Xuân T và bà Phạm Thị Lan P kết hôn ngày 19/01/1994, đến năm 2010 các đương sự làm đơn xin ly hôn. Tại bản án số 65/2010/HNGĐ-ST ngày 06/9/2010 của TAND thành phố Buôn Ma Thuột đã giải quyết cho ông T và bà P ly hôn, về tài sản chung các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 24/5/2010 ông T và bà P có lập biên bản thoả thuận giao cho ông T quản lý và sử dụng căn nhà và đất tại A Y, phường T, TP B nay là thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19 có diện tích: 514,2m²; giao cho bà P quản lý và sử dụng căn nhà và đất tại 60/B Quốc lộ A, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Về nghĩa vụ ông T phải có nghĩa vụ trả nợ số tiền 250.000.000 đồng lãi phát sinh vay của B, ngoài ra ông T phải có nghĩa vụ đóng bảo hiểm nhân thọ hàng năm cho các con. Ngoài ra các đương sự còn thoả thuận một số tài sản khác.

Ngày 4/11/2010 ông T và bà P lập biên bản thoả thuận chia tài sản sau: Quyền sử dụng là thửa đất số 422, tờ bản đồ số 7, diện tích 356m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 148253 do UBND huyện C cấp ngày 28/9/1993 tại xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk cho bà P quản lý sử dụng. Về nghĩa vụ ông T có nghĩa vụ thanh toán 250.000.000 đồng và lãi phát sinh vay của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và số tiền 150.000.000 đồng vay của anh trai bà P, ông T còn có nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho các thành viên trong gia đình (ông T, bà P, cháu N và cháu H). Việc thoả thuận được văn phòng C chứng nhận ngày 04/11/2010. Trong quá thực hiện thoả thuận ông T đang quản lý và sử dụng thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, diện tích: 514,2m². Bà P quản lý và sử dụng thửa đất số 422, tờ bản đồ số 7, diện tích 356m², hiện nay thửa đất trên bà P đã chuyển nhượng và mua nhà nơi khác để sinh sống.

Ông T yêu cầu bà P nhiều lần ký các thủ tục hành chính để ông T đứng tên một mình trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thoả thuận phân chia tài sản nhưng bà P không đồng ý do vậy các bên xảy ra tranh chấp.

HĐXX thấy rằng: Văn bản thoả thuận phân chia tài sản ngày 24/5/2010 và ngày 4/11/2010 do các bên tự nguyện thoả thuận có công chứng chứng thực của văn phòng C ngày 4/11/2010 (đối với văn bản ngày 4/11/2010) hiện nay các văn bản trên các đương sự không có ý kiến, không yêu cầu huỷ văn bản thoả thuận do vậy việc thoả thuận các bên vẫn có giá trị pháp lý, ông T đã thực hiện việc giao cho bà P quản lý và sử dụng thửa đất số 422, tờ bản đồ số 7, diện tích 356m² hiện nay bà P đã sang nhượng để mua nhà đất sinh sống, nhưng bà P không thực hiện việc ký thủ tục giấy tờ cho ông T đứng tên quyền sử dụng đất là vi phạm thoả thuận. Do vậy cần chấp nhận đơn khởi kiện của ông T. Giao cho ông Phạm Xuân T quản lý và sử dụng thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, diện tích: 514,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 783661 địa chỉ: Phường T, TP B và các tài sản trên đất là phù hợp.

Đối với nghĩa vụ ông T phải thực hiện hoàn trả cho bà P số tiền vụ thanh toán 250.000.000 đồng và lãi phát sinh vay của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và số tiền 150.000.000 đồng vay của anh trai bà P, ngoài ra ông T còn có nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho các thành viên trong gia đình (ông ông T, bà P, cháu N và cháu H). Toà án đã giải thích và yêu cầu bà P làm đơn kiện phản tố nhưng bà P không khởi kiện do vậy cần thụ lý bằng vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.

Đối với tài sản khác trong văn bản thoả thuận các đương sự không tranh chấp nên HĐXX không xem xét.

Đối với đề nghị của Luật sư đề nghị chia cho bà P 35% giá trị tài sản là căn nhà và đất 127A Y Ngông, phường T, TP B là không phù bởi lẽ các văn bản thoả thuận đã giao cho bà P nhà đất nhưng đã sang nhượng cho người khác để lấy tiền mua tài sản, do đó không chấp nhận lời đề nghị của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà P là phù hợp.

[3] Về án phí, chi phí tố tụng: Ông Phạm Xuân T là người cao tuổi nên miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 29, 33, 34, 37, 38, 47, 48 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 nghị quyết của UBTVQH số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện chia tài sản sau ly hôn của ông Phạm Xuân T.

Giao cho ông Phạm Xuân T quản lý và sử dụng thửa đất số 66, tờ bản đồ số 19, diện tích: 514,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 783661 địa chỉ: Phường T, TP B, tỉnh Đắk Lắk có giá trị 8.400.000.000 đồng, tài sản trên đất bao gồm: 01 căn nhà cấp 4 diện tích 74,24 m² có giá 129.900.119 đồng; 01 nhà xây 2 tầng phía sau diện tích 131,72m2 có giá 829.624.668 đồng; 01 nhà xây 2 tầng phía trước diện tích 257,4m2 có giá 810.603.513 đồng; 01 mái hiên có giá 3.586.500 đồng; 01 sân lát gạch diện tích 36,55m2 có giá 3.234.675 đồng; tường rào 10m có giá 8.870.000 đồng; 01 cổng sắt có giá 1.935.000 đồng. Tổng tài sản trên đất là 1.787.754.475 đồng.

Phạm Thị Lan P được quyền khởi kiện ông Phạm Xuân T đối với số nợ và tiền đóng bảo hiểm bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

2. Về án phí: Ông Phạm Xuân T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Chấp nhận sự tự nguyện của ông Phạm Xuân T nộp 4.000.0000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Được khấu trừ số tiền đã nộp để chi phí.

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Tp Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS Tp Buôn Ma Thuột;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Viết Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về kiện chia tài sản sau ly hôn

  • Số bản án: 163/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện chia tài sản sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản sau ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger