|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 163/2024/HS-ST Ngày: 22 - 07 - 2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.
- Ông Nguyễn Công Chiếm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 150/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 942/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn H; giới tính: Nam; sinh ngày: 07/5/1991, sinh tại: Tỉnh Tây Ninh; căn cước công dân số: 07209101xxxx; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp 2, xã Mỹ Yên, huyện Bến Lức, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn H2, con bà Nguyễn Thị H3; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
Tại Bản án số 286/2008/HSST ngày 22/9/2008, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 02 năm 06 tháng, về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/4/2010, đã đóng 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm ngày 27/02/2015 và 50.000 đồng án phí dân sự ngày 04/9/2014.
Ngày 17/10/2017, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 02/11/2018.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ 04/3/2024 cho đến nay. (có mặt)
-
Phan Nhật Ph; giới tính: Nam; sinh ngày: 16/10/1993, sinh tại: Tỉnh Bình Dương; căn cước công dân số: 07909300xxxx; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 320/30/4, Tổ 24, khu phố 3A, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Phòng trọ số 2, nhà số 579/10/1, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Phan Tấn L3, con bà Nguyễn Thị Ph Th; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/11/2011, bị Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 12 tháng do có hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 16/11/2012.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 cho đến nay. (có mặt)
- Nguyễn Thị Trúc L (tên gọi khác: Ng); giới tính: Nữ; sinh ngày: 16/7/1989, sinh tại: Tỉnh Bình Định; căn cước công dân số: 05218900xxxx; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 39, Khu phố 6, phường Lê Hồng Phong, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; chỗ ở: Phòng trọ số 1, nhà số 579/10/1, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Nguyễn Thành Ch, con bà Lê Thị Kim Bnh, có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 cho đến nay. (có mặt)
- Đỗ Khánh Đ; giới tính: Nam; sinh ngày: 07/5/2005, sinh tại: Thành phố Hồ Chí Minh; căn cước công dân số: 07920501xxxx; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Đỗ Hoài Hn, con bà Nguyễn Thị Thu Ging; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 đến nay. (có mặt)
- Nguyễn Trung H1; giới tính: Nam; sinh năm: 1991, sinh tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Không xác định; chỗ ở: Tổ 70, ấp Trung Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 03/12; nghề nghiệp: Thợ Sơn; con ông Nguyễn Văn Ngh, con bà Nguyễn Thị N; có vợ: Nguyễn Thị Huỳnh Nh, có 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 đến nay. (có mặt)
- Nguyễn Tiến L1; giới tính: Nam; sinh ngày: 31/5/1985, sinh tại: Tỉnh Tây Ninh; căn cước công dân số: 07208500xxxx; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp 3, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Tổ 7, ấp Mỹ Huề, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Nguyễn Thành Tn, con bà Lâm Thị Hnh; có vợ Nguyễn Thị Bích Nhng, có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2023 đến nay. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Hoàng Thị O, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu 3, thị trấn Cẩm Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh hải Dương. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Anh Kh, sinh năm 1993; địa chỉ: đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 12 tuần tra trên tuyến đường Nguyễn Ảnh Thủ, Quận 12. Khi đến trước địa chỉ số 01A, đường Nguyễn Ảnh Thủ, Quận 12 phát hiện Nguyễn Tiến L1 đang điều khiển xe mô tô biển số 50Y1 – 225.15 chở Lê Trần Quốc Huy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi quần phía trước, bên phải của L1 có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. L1 khai nhận là ma túy nên lực lượng Công an tiến hành đưa L1 cùng tang vật về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến L1 khai nhận: Khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 26/6/2023, L1 điều khiển xe mô tô biển số 50Y1 – 225.15 chở Lê Trần Quốc Huy đi làm ở khu vực thành phố Thủ Đức. Khi đến đầu hẻm trên đường HT13, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 thì L1 nói Huy đứng ở đầu hẻm giữ xe, còn L1 đi bộ vào trong hẻm. Sau đó, L1 liên hệ qua mạng xã hội Zalo với người tên Lee (Nguyễn Văn H) hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp với giá tiền 500.000 đồng để sử dụng. Lee hẹn giao ma túy tại địa chỉ số 579/10/1, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12. L1 đi lại địa chỉ trên thì gặp Nguyễn Thị Trúc L và Phan Nhật Ph. L giao cho L1 01 gói ma túy đá bên ngoài quấn băng keo đen rồi L1 đưa số tiền 500.000 đồng cho Ph. Sau khi mua được ma túy, L1 cất giấu gói ma túy vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ ra đầu hẻm và tiếp tục điều khiển xe chở Huy đi làm thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang như trên. Trước đó khoảng 01 tháng, L1 cũng mua của Nguyễn Văn H 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng.
Kết quả xét nghiệm, Nguyễn Tiến L1 dương tính với ma túy tổng hợp.
Lê Trần Quốc Huy trình bày: Ngày 26/6/2023, Nguyễn Tiến L1 chở Huy đi làm. Khi đến đầu hẻm đường HT13, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 thì L1 nói Huy đứng đợi trông xe, còn L1 đi bộ vào trong hẻm. Khoảng vài phút sau, L1 đi ra rồi tiếp tục chở Huy đi làm. Sau đó thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang L1 đang tàng trữ 01 gói ma túy tổng hợp. Huy không góp tiền mua ma túy với L1. Trước đó 02 ngày, Huy có sử dụng ma túy với bạn nghiện ngoài xã hội. Lời khai của Huy phù hợp với lời khai của L1.
Kết quả xét nghiệm, Huy dương tính với ma túy tổng hợp. Ngày 20/9/2023, Tòa án nhân dân Quận 12 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng đối với Huy.
Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 26/6/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 12 tuần tra trên tuyến đường Trần Quang Cơ, thuộc phường Hiệp Thành, Quận 12. Khi đến trước địa chỉ số 648/66 đường Trần Quang Cơ, Khu phố 4, phường Hiệp Thành, Quận 12 thì phát hiện Đỗ Khánh Đ đang điều khiển xe mô tô biển số 67K1-466.16 chở Nguyễn Trung H1 ngồi sau có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lúc này, H1 ném bao thuốc lá hiệu SAIGON, bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu xuống đất thì bị lực lượng Công an phát hiện. H1 và Đ khai nhận đây là ma túy Đ mua, sau đó đưa cho H1 cất giấu để sử dụng nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản, thu giữ tang vật và mời về trụ sở làm việc.
Qua làm việc, Đỗ Khánh Đ và Nguyễn Trung H1 khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 26/6/2023, H1 điều khiển xe mô tô biển số 67K1-466.16 đi đến nhà của Đ tại địa chỉ số 4/6, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn và nhờ Đ liên hệ mua ma túy. H1 chuyển số tiền 1.600.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng TP Bank qua tài khoản Ngân hàng MB Bank của Đ. Sau đó Đ liên hệ với một người lưu tên trên Zalo là “DubaiMod" (Nguyễn Văn H) hỏi mua ma túy và chuyển số tiền 1.600.000 đồng qua tài khoản Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam cho H. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô biển số 67K1-466.16 chở H1 đi đến khu vực trước nhà số 579/10/1 đường HT13, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 để nhận ma túy. Tại đây, Đ gặp Nguyễn Thị Trúc L, L giao cho Đ 02 gói ma túy đá được cất giấu trong khẩu trang màu đen. Sau đó, Đ đưa khẩu trang màu đen bên trong có 02 gói ma túy đá cho H1 cất giấu vào trong bao thuốc lá hiệu SAIGON cầm trong tay trái, rồi Đ điều khiển xe chở H1 đi về nhà. Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi Đ chở H1 đến trước địa chỉ 648/66 đường Trần Quang Cơ, Khu phố 4, phường Hiệp Thành, Quận 12 thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang H1 và Đ đang tàng trữ ma túy như trên. Trước đó khoảng 10 ngày, Đ cũng mua của H 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng.
Kết quả xét nghiệm, Nguyễn Trung H1 và Đỗ Khánh Đ dương tính với ma túy tổng hợp.
Vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 26/6/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 12 tuần tra trên tuyến đường HT16 thuộc phường Hiệp Thành, Quận 12. Khi đến trước địa chỉ số 127 đường HT16, phường Hiệp Thành, Quận 12 thì phát hiện Nguyễn Thị Trúc L đang điều khiển xe mô tô biển số 34H1 - 018.42 có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở làm việc. L khai nhận có sử dụng ma túy tổng hợp và đang cất giấu 01 gói nylon chứa ma túy đá nhằm mục đích giao bán cho người khác nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản và thu giữ tang vật.
Tiến hành khám xét nơi ở của L, phát hiện, thu giữ 01 bình nhựa có gắn nỏ và ống hút, trong nỏ có chứa tinh thể màu nâu, L khai nhận đây là ma túy L tàng trữ để sử dụng nên lực lượng Công an tiến hành thu giữ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Trúc L khai nhận: Đầu tháng 6/2023, Nguyễn Văn H thuê phòng trọ số 1, nhà số 579/10/1, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 để ở cùng với L. Sau đó, H thuê phòng trọ số 2 cho Phan Nhật Ph ở và phụ giúp H trong việc cất giấu, phân chia và giao bán ma túy cho người khác theo yêu cầu của H. Quá trình sống chung, L đã phụ giúp Ph giao bán ma túy được 04 lần:
- Lần thứ 1: Vào khoảng 12 giờ ngày 26/6/2023, Ph đưa cho L 01 gói ma túy để giao cho 01 người thanh niên (không xác định) ở khu vực Cầu Xáng, huyện Hóc Môn, sau khi giao ma túy xong, L nhận 200.000 đồng và đem về đưa cho Ph.
- Lần thứ 2: Khoảng 15 giờ 30 phút, cùng 26/6/2023, Ph đưa cho L 02 gói ma túy cất giấu trong 01 khẩu trang màu đen rồi đem ra khu vực trước hẻm HT13, phường Hiệp Thành, Quận 12 giao cho Đỗ Khánh Đ và Nguyễn Trung H1.
- Lần thứ 3: Khoảng 15 giờ 55 phút, ngày 26/6/2023, H điện thoại nói L ra mở cửa cổng phòng trọ thì thấy Nguyễn Tiến L1 đang đứng chờ. Lúc này, Ph cũng về đến phòng trọ và đi vào trong lấy 01 gói ma túy đưa cho L để L giao cho L1. Sau khi nhận ma túy thì L1 đưa 500.000 đồng cho Ph.
- Lần thứ 4: Khoảng 16 giờ ngày 26/6/2023, L đang ở tại phòng trọ số 01 thì Phan Nhật Ph đưa cho L 01 gói ma túy và nói L đi giao bán cho người tên Phong (không xác định) tại khu vực gần ngã ba đường Dương Thị Mười và Nguyễn Thị Kiểu, phường Hiệp Thành, Quận 12 với giá tiền 1.300.000 đồng. L lấy băng keo quấn gói ma túy ở phía dưới đáy L nhựa, bỏ vào trong túi nylon và treo ở tay lái bên trái của xe mô tô 34H1 – 018.42. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 34H1 – 018.42 đến điểm hẹn thì bị Công an kiểm tra và L đã tự nguyện giao nộp gói ma túy trên.
Đối với số ma túy trong nỏ tại phòng trọ của L là của Phan Nhật Ph cho L để sử dụng.
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/6/2023, Lực lượng Công an kiểm tra hành chính phòng trọ số 2 nhà số 579/10/1 Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 nơi Phan Nhật Ph đang ở thì phát hiện trên nền nhà có 01 chai nhựa có gắn nỏ và ống hút. Qua làm việc, Ph tự nguyện giao nộp 03 gói ma túy đang tàng trữ nhằm mục đích để bán.
Phan Nhật Ph khai nhận: Do không có việc làm và cần tiền tiêu xài nên Ph đến ở tại phòng trọ số 2, nhà số 579/10/1, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 để phụ giúp Nguyễn Văn H bán ma túy. H sử dụng tài khoản Zalo tên “Brijukap” hoặc số điện thoại 0827.399.xxx để liên lạc với Ph khi cần trao đổi việc mua bán ma túy. Ma túy H mua rồi đặt xe Grab giao đến cho Ph cất giữ, khi có người liên hệ mua ma túy thì H gọi điện thoại yêu cầu Ph đem ma túy đi giao bán. Ph được H trả tiền thuê phòng trọ, tiền ăn uống và cho ma túy để sử dụng. Vào ngày 26/6/2023, Ph đã giao bán ma túy 04 lần. Trong đó, H gọi điện thoại cho Ph để giao bán ma túy 03 lần gồm: Giao bán 02 gói ma túy cho Đỗ Khánh Đ và Nguyễn Trung H1 trước hẻm HT13, phường Hiệp Thành, Quận 12, giao bán 01 gói ma túy cho Nguyễn Tiến L1 trước cửa phòng trọ, giao bán 01 gói ma túy cho người tên Phong (không xác định) tại khu vực gần ngã ba đường Dương Thị Mười và Nguyễn Thị Kiểu, phường Hiệp Thành, Quận 12 và 01 lần khách liên lạc trực tiếp với Ph mua 01 gói ma túy và hẹn giao tại khu vực Cầu Xáng, huyện Hóc Môn. Cả 04 lần, Ph đều nhờ Nguyễn Thị Trúc L đi giao ma túy dùm cho Ph. Đối với số ma túy của H đưa cho Ph cất giấu tại phòng trọ số 02 nhằm mục đích để bán thì L không biết, còn số ma túy lực lượng Công an thu giữ trong nỏ tại phòng trọ của L là của Ph lấy từ trong gói ma túy Ph tàng trữ nhằm mục đích bán lại cho người khác để cho L sử dụng.
Đối với Nguyễn Văn H: Ngày 17/01/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã, đến ngày 04/3/2024 thì bắt được H. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau:
H và Phan Nhật Ph là bạn bè quen biết ngoài xã hội, còn Nguyễn Thị Trúc L là bạn gái của H. H là người đứng ra thuê 2 phòng trọ tại nhà số 579/10/1 đường HT13, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 cho L và Ph sinh sống. Ph là người phụ giúp cho H trong việc giao bán ma túy, khi có khách liên hệ mua ma túy thì H gọi cho Ph phân chia ma túy và đem đi giao bán cho khách. Hoặc khi có khách liên hệ trực tiếp cho Ph thì Ph sẽ tự bán. H trả công cho Ph bằng cách cho Ph ma túy để sử dụng, trả tiền thuê phòng trọ và tiền ăn uống hàng ngày cho Ph. H không nói cho L biết việc cất giấu trái phép chất ma túy tại phòng trọ của Ph và cũng không nhờ L phụ giúp gì cho H trong việc mua bán trái phép chất ma túy.
Đối với số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ tại phòng trọ của Ph là do H đặt mua của một người đàn ông tên Vũ (không rõ lai lịch), cụ thể: Buổi sáng ngày 26/6/2023, khi H đang ở tỉnh Tây Ninh thì H gọi điện thoại cho Vũ đặt mua 01 gói ma túy đá với giá 5.500.000 đồng. H nhờ 1 người bạn nghiện ngoài xã hội tên Tuấn (không rõ lai lịch) trả số tiền 2.000.000 đồng giùm H, còn lại 3.500.000 đồng khi nào bán xong H sẽ trả cho Vũ. H nói Vũ gửi ma túy cho H bằng xe ôm công nghệ đến địa chỉ nhà số 579/10/1 đường HT13, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 sẽ có Phan Nhật Ph ra nhận hàng. Sau khi Ph nhận được ma túy do Vũ giao đến thì có cân lại khối lượng của các gói ma túy và chụp hình gửi cho H kiểm tra. Trong ngày 26/6/2023, H đã gọi cho Ph giao bán ma túy 03 lần:
- Lần thứ 1: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 26/6/2023, Đỗ Khánh Đ liên hệ qua Zalo cho H và đặt mua gói ma túy giá 2.600.000 đồng. Sau đó H liên lạc nói Ph đem giao 01 gói ma túy đá cho Đ đang đứng chờ trước hẻm HT13, phường Hiệp Thành, Quận 12. Ph chỉ có nhiệm vụ giao ma túy, còn tiền mua ma túy Đ đã chuyển khoản trực tiếp cho H qua tài khoản Ngân hàng BIDV số 31010002692554.
- Lần thứ 2: Khoảng 15 giờ 55 phút, ngày 26/6/2023 Nguyễn Tiến L1 nhắn tin qua Zalo cho H đặt mua 01 gói ma túy giá 500.000 đồng. H gọi điện thoại nói Ph giao bán 01 gói ma túy đá giá 500.000 đồng cho Nguyễn Tiến L1 ở trước cổng phòng trọ và kêu Ph nhận tiền mặt. Lúc này, do Ph đang ở bên ngoài nên H gọi điện thoại nhờ L ra mở cửa cổng phòng trọ cho L1 vào để chờ Ph, còn ai là người giao ma túy và nhận tiền của L1 thì H không biết.
- Lần thứ 3: Khoảng 16 giờ, ngày 26/6/2023, H gọi điện thoại nói Ph đem giao 01 gói ma túy đá giá 1.300.000 đồng cho một người thanh niên tên Phong tại khu vực gần ngã ba đường Dương Thị Mười và Nguyễn Thị Kiểu, phường Hiệp Thành, Quận 12.
Đối với số ma túy mà Công an khám xét thu giữ trong nỏ thủy tinh tại phòng trọ của L, H không biết nguồn gốc ở đâu mà có vì H và L đã không sống cùng nhau trước ngày L bị bắt khoảng 2 tuần. H và L không sử dụng ma túy cùng nhau tại phòng trọ trên.
Lời khai của Nguyễn Văn H phù hợp với lời khai của Phan Nhật Ph và Nguyễn Thị Trúc L.
Kết luận giám định số 6993/KL-KTHS, ngày 04/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được quấn băng keo màu đen được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Tiến L1 và hình dấu Công an phường Hiệp Thành, Quận 12 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4617g loại Methamphetamine.
- Gói 2: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được được niêm phong bên ngoài có các dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H1 và Đỗ Khánh Đ và hình dấu Công an phường Hiệp Thành, Quận 12 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,3943g loại Methamphetamine.
- Gói 3: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Trúc L và hình dấu Công an phường Hiệp Thành, Quận 12 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3421g loại Methamphetamine.
- Gói 4: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được quấn băng keo màu đen được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Phan Nhật Ph và hình dấu Công an phường Hiệp Thành, Quận 12 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 21,1482g loại Methamphetamine.
- Gói 5: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được quấn băng keo màu đen được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Trúc L và hình dấu Công an phường Hiệp Thành, Quận 12 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,5098g loại Methamphetamine.
* Vật chứng:
05 gói ma túy đã được niêm phong (vụ số 1423/2023).
Thu giữ của Nguyễn Tiến L1:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, L1 dùng liên lạc với H để mua ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone vàng Gold, L1 dùng liên lạc cá nhân.
- 01 xe mô tô biển số 50Y1-225.15, qua xác minh, xe do chị Nguyễn Thị Bích Dng (vợ của Nguyễn Tiến L1) đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 26/6/2023, Dng đi công việc và để xe ở nhà, Dng không biết L1 sử dụng xe để đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Dng.
Thu giữ của Nguyễn Trung H1
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung.
- 01 xe mô tô biển số 67K1-644.16, qua xác minh, xe do chị Nguyễn Thị Huỳnh Nh (vợ của Nguyễn Trung H1) đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 26/6/2023, Nhi không biết H1 sử dụng xe để đi mua ma túy về sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị Nh.
Thu giữ của của Đỗ Khánh Đ: 01 điện thoại di động hiệu OPPO.
Thu giữ của Nguyễn Thị Trúc L:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone (L dùng liên lạc với H, Ph); 01 điện thoại di động hiệu Vsmart và 01 điện thoại di động hiệu Oppo (L không sử dụng vào việc mua bán ma túy).
- 01 xe mô tô biển số 34H1-018.42, số máy: 1FC3-038466, số khung: C30EY038450, loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Trắng Đen, dung tích xi lanh: 113. Qua xác minh, xe do chị Hoàng Thị O đứng tên chủ sở hữu. Chị O đã bán xe trên cho một người không rõ lai lịch vào năm 2018, không làm hợp đồng mua bán và sang tên. Nguyễn Thị Trúc L trình bày, xe mô tô trên là của Nguyễn Văn H để tại phòng trọ của L và H, ngày 26/6/2023, L có sử dụng để giao ma túy thì bị bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã Đ báo truy tìm chủ sở hữu chiếc xe trên.
- 01 nỏ thủy tinh.
- 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút.
Thu giữ của của Phan Nhật Ph:
- 01 ống hút cắt xéo một đầu; 01 kéo; 10 túi nylon các loại.
- 01 chai nhựa gắn nỏ và ống hút.
- 01 cân tiểu L.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo.
- 1.000.000 đồng tiền Việt Nam, đây là tiền liên quan đến việc mua bán ma túy, Ph chưa kịp chuyển cho H.
- 01 xe mô tô biển số 59M1-453.93, số máy: 44S1072881, số khung: RLCL44S10DY072943, loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: LUVIAS, màu sơn: Trăng Xám, dung tích xi lanh: 124. Qua xác minh, xe do anh Nguyễn Anh Kh đứng tên chủ sở hữu, vào năm 2018, anh Kh đã bán xe cho một người thanh niên không nhớ lai lịch. Phan Nhật Ph trình bày xe mô tô trên là của Nguyễn Văn H để tại phòng trọ số 2 thuê cho Ph ở. Ph dùng xe này để đi bán ma túy, chuyển tiền bán ma túy cho H. Xét thấy, xe chủ sở đã bán, chưa làm thủ tục sang tên, Ph sử dụng làm Ph tiện phạm tội. Vì vậy, tịch thu, nộp ngân sách chiếc xe này theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thu giữ của Nguyễn Văn H: 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei 1: 352141/10/325155/5, số Emei 2: 3521412/10/325155/3, 01 thẻ ATM số 97041386880003792206 mang tên NGUYEN VAN HIEU.
Tại Cáo trạng số: 07A/CT-VKS-Q.12 ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố:
Nguyễn Văn H, Phan Nhật Ph về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Nguyễn Thị Trúc L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Nguyễn Trung H1, Đỗ Khánh Đ, Nguyễn Tiến L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông tên “Vũ” bán ma túy cho Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Văn H, Phan Nhật Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Nguyễn Thị Trúc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo Nguyễn Trung H1, Đỗ Khánh Đ, Nguyễn Tiến L1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào các điểm b, c, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 năm đến 13 năm tù.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Căn cứ vào các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Nhật Ph từ 10 năm đến 11 năm tù.
Căn cứ vào điểm b, c, i khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc L từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng cộng hình phạt bị cáo phải chấp hành của 02 tội là từ 08 năm đến 09 năm 06 tháng tù.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Khánh Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xử có cơ sở kết luận:
[2.1] Do cần tiền tiêu xài và cần ma túy để sử dụng nên Nguyễn Văn H, Phan Nhật Ph đã cùng nhau bán ma túy cho người khác. H là người trực tiếp mua ma túy đưa cho Ph cất giấu tại phòng trọ số 02 nhà số 579/10/1, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12. Ph và H đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều người, trong đó vào ngày 26/6/2024 đã bán ma túy cho Đỗ Khánh Đ và Nguyễn Trung H1 02 gói ma túy có khối lượng 3,3943g; bán cho Nguyễn Tiến L1 01 gói ma túy có khối lượng 0,4617g và bán ma túy cho 01 người tên Phong (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy có khối lượng 2,5098g.
Kiểm tra hành chính nơi ở của Ph tại phòng trọ số 02 nhà số 579/10/1, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12, lực lượng Công an phát hiện thu giữ 21,1482g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine của H và Ph tàng trữ nhằm mục đích bán lại cho người khác.
Ngoài ra, Ph còn lấy 01 ít ma túy trong số ma túy cất giấu nhằm mục đích bán lại cho người khác để cho Nguyễn Thị Trúc L sử dụng. Sau khi L sử dụng xong thì còn lại 0,3421g ma túy trong nỏ.
Qua giám định, toàn bộ số ma túy nêu trên là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 27,8561g.
Như vậy, Hội đồng xét xử xác định H, Ph đã bán ma túy 03 lần, có 01 lần bán cho 02 người (Đỗ Khánh Đ, Nguyễn Trung H1), khối lượng ma túy bị thu giữ để bán là 27,8561g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine. Hành vi của H, Ph đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Vào ngày 26/6/2023, Nguyễn Thị Trúc L tàng trữ 2,5098g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán cho một người tên Phong (không rõ lai lịch) thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Trước đó, L đã bán ma túy cho Đỗ Khánh Đ và Nguyễn Trung H1 01 gói ma túy có khối lượng 3,3943g và bán cho Nguyễn Tiến L1 01 gói ma túy có khối lượng 0,4617g.
Như vậy, tổng khối lượng ma túy L tàng trữ để bán lại cho người khác là 6,3658g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine. Hành vi này của L đã phạm tội tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[2.3] Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ tại phòng trọ số 01 nhà số 579/10/1, Tổ 31, Khu phố 3, phường Hiệp Thành, Quận 12 của L 0,3421g ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, L tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Số ma túy này không liên quan đến số ma túy tàng trữ để bán. Hành vi này của L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[2.4] Vào ngày 26/6/2023, Nguyễn Trung H1 và Đỗ Khánh Đ có hành vi tàng trữ 3,3943g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Nguyễn Tiến L1 có hành vi tàng trữ 0,4617g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, H1, Đ, L1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét thấy hành vi của các bị cáo H và Ph, Ph và L, H1 và Đ là có đồng phạm với nhau nhưng chỉ mang tính giản đơn, nhất thời, không có tổ chức.
[4] Xét thấy, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị Trúc L phạm 02 tội nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo L.
[6] Xét thấy, hành vi của các bị cáo H, Ph và L là có thu lợi bất chính. Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo H. Đối với các bị cáo Ph, L, xét thấy các bị cáo này có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo này.
[7] Đối với người đàn ông tên “Vũ” không rõ lai lịch bán ma túy cho Nguyễn Văn H, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Về vật chứng vụ án:
[8.1] Đối với các vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã giải quyết thì không đề cập giải quyết.
[8.2] 05 gói ma túy đã được niêm phong (vụ số 1423/2023); 01 nỏ thủy tinh; 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút; 01 ống hút cắt xéo một đầu; 01 kéo; 10 túi nylon các loại; 01 chai nhựa gắn nỏ và ống hút; 01 cân tiểu L; 01 thẻ ATM Ngân hàng BIDV số 97041386880003792206 mang tên NGUYEN VAN HIEU – là vật cấm lưu hành, công cụ phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.3] 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng thu giữ của Nguyễn Tiến L1; 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Nguyễn Trung H1; 01 điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của Đỗ Khánh Đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ của Nguyễn Thị Trúc L; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei 1: 352141/10/325155/5, số Emei 2: 3521412/10/325155/3 thu giữ của Nguyễn Văn H; số tiền 1.000.000 đồng tiền Việt Nam và 01 điện thoại di động hiệu Vivo thu giữ của Phan Nhật Ph – là tài sản, công cụ liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.4] 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng Gold thu giữ của Nguyễn Tiến L1; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart và 01 điện thoại di động hiệu Oppo thu giữ của Nguyễn Thị Trúc L không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho L1, L theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.5] 01 xe mô tô biển số 34H1-018.42. Qua xác minh, xe do chị Hoàng Thị O đứng tên chủ sở hữu. Chị O đã bán xe trên cho một người không rõ lai lịch vào năm 2018, không làm hợp đồng mua bán và sang tên. Nguyễn Thị Trúc L trình bày, xe mô tô trên là của Nguyễn Văn H để tại phòng trọ của L và H, ngày 26/6/2023, L có sử dụng để giao ma túy thì bị bắt quả tang. Xét thấy, xe chủ sở đã bán, chưa làm thủ tục sang tên. Nguyễn Văn H để xe ở phòng trọ và L sử dụng đi bán ma túy. Vì vậy, tịch thu, nộp ngân sách chiếc xe này theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8.6] 01 xe mô tô biển số 59M1-453.93. Qua xác minh, xe do anh Nguyễn Anh Kh đứng tên chủ sở hữu. Vào năm 2018, anh Kh đã bán xe cho một người thanh niên không nhớ lai lịch, chưa làm thủ sang tên. Phan Nhật Ph trình bày xe mô tô trên là của Nguyễn Văn H để tại phòng trọ số 2 thuê cho Ph ở, Ph dùng xe này để đi bán ma túy, chuyển tiền bán ma túy cho H. Xét thấy, xe chủ sở đã bán, chưa làm thủ tục sang tên, Ph sử dụng làm Ph tiện phạm tội. Vì vậy, tịch thu, nộp ngân sách chiếc xe này theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Theo Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Văn H, Phan Nhật Ph phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Nguyễn Thị Trúc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo Nguyễn Tiến L1, Đỗ Khánh Đ, Nguyễn Trung H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào các điểm b, c, i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2024.
Phạt tiền bổ sung bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Căn cứ vào các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Nhật Ph 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2023.
- Căn cứ vào các điểm b, c, i khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Trúc L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng cộng hình phạt bị cáo phải chấp hành của 02 tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2023.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Đỗ Khánh Đ 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù của các bị cáo Nguyễn Trung H1, Đỗ Khánh Đ tính từ ngày 26/6/2023.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến L1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2023.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy:
- 05 gói ma túy đã được niêm phong (vụ số 1423/2023).
- 01 nỏ thủy tinh.
- 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút.
- 01 ống hút cắt xéo một đầu; 01 kéo; 10 túi nylon các loại.
- 01 chai nhựa gắn nỏ và ống hút.
- 01 cân tiểu L.
- 01 thẻ ATM Ngân hàng BIDV số 97041386880003792206 mang tên NGUYEN VAN HIEU.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
- 01 điện thoại di động Iphone màu trắng thu giữ của Nguyễn Tiến L1.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung thu giữ của Nguyễn Trung H1.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO thu giữ của của Đỗ Khánh Đ
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ của Nguyễn Thị Trúc L
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei 1: 352141/10/325155/5, số Emei 2: 3521412/10/325155/3 thu giữ của Nguyễn Văn H.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo thu giữ của Phan Nhật Ph.
- Số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.
- 01 xe mô tô biển số 34H1-018.42, số máy: 1FC3-038466, số khung: C30EY038450, loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Trắng Đen, dung tích xi lanh: 113
- 01 xe mô tô biển số 59M1-453.93, số máy: 44S1072881, số khung: RLCL44S10DY072943, loại xe: Hai bánh, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: LUVIAS, màu sơn: Trắng Xám, dung tích xi lanh: 124.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến L1 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng Gold.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Trúc L: 01 điện thoại di động hiệu Vsmart; 01 điện thoại di động hiệu Oppo.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 57/QĐ-VKS ngày 19/02/2024 và Quyết định chuyển vật chứng số 112/QĐ-VKS ngày 22/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |
Bản án số 163/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 163/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H và đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
