|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 163/2024/DS-PT
Ngày: 22 - 4 - 2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Trang Thư;
Bà Phan Thị Hồng Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 419/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thuỷ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 55/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 01 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 46/2024/TB-TA ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Ngọc N, sinh năm 1948; (có mặt)
Địa chỉ: 1, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: ông Châu Thanh B là Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố C; địa chỉ: A C, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn:
- Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1960;
- Ông Huỳnh Tuấn A, sinh năm 1996;
- Bà Huỳnh Thị Thảo T, sinh năm 1994; (có mặt)
Địa chỉ: A, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Bà Huỳnh Thị Thảo T ủy quyền cho bà Nguyễn Hồng N1, sinh năm 1995; địa chỉ: Số B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 15/10/2022. (có mặt)
Bà Phan Thị Đ, ông Huỳnh Tuấn A đều ủy quyền cho bà Huỳnh Thị Thảo T, sinh năm 1994; địa chỉ: A khu V, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1968 (chết ngày 06/8/2022)
Địa chỉ: A, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người thừa kế tố tụng của ông Huỳnh Văn H:
- Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1960;
- Bà Huỳnh Thị Thảo T, sinh năm 1994;
- Ông Huỳnh Tuấn A, sinh năm 1996;
Địa chỉ: A, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Bà Diệp Thị H1, sinh năm 1931;
Địa chỉ: 2 N, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Bà H1 ủy quyền cho bà Huỳnh Thị Thảo T, sinh năm 1994. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn: Ông Phạm Xuân T1, sinh năm 1987 là Luật sư thuộc Văn phòng L2; địa chỉ: B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1946 (chết ngày 24/4/2023).
Địa chỉ trước khi chết: 146A/7, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Hồng Đ1, sinh năm 1943. (chết ngày 17/05/2007)
Địa chỉ trước khi chết: 146A/7, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người thừa kế tố tụng của bà Đặng Thị T2 và Nguyễn Hồng Đ1:
- Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1966; (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ G, ấp T, P, G, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1968; (có mặt)
Địa chỉ: Số A, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1971; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1974; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1979; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1982; (có mặt)
Địa chỉ: Số A, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1966; (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1949; (vắng mặt)
Địa chỉ: 1, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1999; (vắng mặt)
Địa chỉ: A, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1946 (chết ngày 24/4/2023).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Thái Ngọc N, bị đơn bà Phan Thị Đ, bà Huỳnh Thị Thảo T, ông Huỳnh Tuấn A.
Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Thái Ngọc N trình bày: Năm 1995, bà N nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hồng Đ1 và bà Đặng Thị T2 diện tích đất ngang đầu ngoài 4m, đầu trong 4,5m, dài 19,8m tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ để làm lối đi và sử dụng cho đến nay. Do diện tích đất nhỏ và tin tưởng nhau nên bà N và ông Đ1, bà T2 chỉ lập giấy viết tay và không làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất. Năm 2001, bà Phan Thị Đ nhận chuyển nhượng đất của ông Đ1 và bà T2, trong quá trình làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp chồng lấn lên diện tích đất bà N đã nhận chuyển nhượng như đã trình bày ở trên (Tại biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới đất vẫn thể hiện lối đi bà N đã mua lại từ ông Đ1, bà T2; Năm 2004, bà Đ có đơn đăng ký, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong tờ kê khai thể hiện diện tích là 1158 m²; Năm 2007, bà Đ được cấp đổi qua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH851618, số vào số 003233/LH thể hiện diện tích là 1217m²). Ngày 25/6/2020, bà N làm thủ tục xin cấp giấy phần đất nhận chuyển nhượng nhưng không thực hiện được do phần đất này đã nằm trong giấy cấp cho bà Đ, hơn nữa phần diện tích nhận chuyển nhượng nhỏ hơn 150 m² nên không đủ diện tích tối thiểu được phép tách thửa (thời điểm này bà Đ đồng ý tách trả đất cho bà N). Theo hướng dẫn của Cán bộ đo đạc Phòng Tài nguyên và Môi trường quận B, bà N và bà Đ đã lập giấy thỏa thuận xác nhận phần đất mà bà N nhận chuyển nhượng nêu trên đã bị gộp chung vào phần đất mà bà Đ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng sự thật. Tuy nhiên, vài ngày sau bà Đ cùng các con sang gây sự, to tiếng để lấy lại giấy thỏa thuận mà bà N đang giữ. Do sợ xảy ra xô xát cùng với tuổi đã cao, nên bà N đã đưa lại giấy thỏa thuận đang giữ cho bà Đ (hiện bà Đ giữ cả hai bản chính giấy thỏa thuận nói trên). Vào thời điểm làm thủ tục xin cấp giấy, bà N có một thửa đất giáp với thửa đất đã nhận chuyển nhượng từ ông Đ1 và bà T2, nếu hợp hai thửa đất thì tổng diện tích đất lớn hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa nhưng bà N đã không biết việc này. Ngày 14/3/2021, bà N có đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai và được Ủy ban nhân dân phường L tiến hành hòa giải vào ngày 14/4/2021 với kết quả hòa giải thành, bà N yêu cầu bà Đ trả lại diện tích đất cấp chồng lấn với diện tích ngang đầu ngoài 4m, ngang đầu trong 4,5m, chiều dài 19,8m; bà Đ đồng ý trả lại diện tích đất cấp chồng lấn, chi phí đo đạc, tách thửa do bà N chịu. Trong quá trình đo đạc để làm thủ tục tách trả đất thì giữa bà N với bà Đ đã không thống nhất được diện tích tách trả, ranh đất, bà Đ chỉ đồng ý tách trả diện tích đất ngang đầu ngoài khoảng 3,6m (từ cây trụ điện phía bên trong), ngang đầu trong khoảng 4m (từ cột trụ bụi tre), chiều dài 18,9m. Bà N đề nghị hòa giải lại nên ngày 08/7/2021, Ủy ban nhân dân phường L đã tiến hành hòa giải, lần này bà Đ đã thay đổi ý kiến và không đồng ý trả lại diện tích đất tranh chấp cho bà N. Nay, bà N khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc bà Đ trả lại cho bà N diện tích đất ngang đầu ngoài 4,0m, ngang đầu trong 4,5m (giáp bụi tre), chiều dài 19,8m tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ do hộ bà Phan Thị Đ trong quá trình làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp chồng lấn lên diện tích đất nói trên của bà N.
Bị đơn bà Huỳnh Thị Thảo T đồng thời bà Huỳnh Thị Thảo T đại diện cho bị đơn bà Phan Thị Đ và ông Huỳnh Tuấn A trình bày: Năm 2001, bà Đ nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hồng Đ1 một thửa đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/11/2002 cho hộ bà Phan Thị Đ diện tích 1207,5m². Sau đó được Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp lại ngày 05/02/2007. Ngày 30/7/ 2020, bà lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị Thảo T với diện tích 383,70m², diện tích thửa 77 còn lại 833,30m² được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B cập nhật biến động ngày 26/8/2020. Bà Đ và gia đình sử dụng ổn định từ năm 2001 đến nay. Việc bà N cho rằng bà Đ lấy đất của bà là không hợp lý, vì bị đơn có quyền sử dụng đất hợp pháp được cơ quan chức năng xác nhận, lúc làm hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Đ1 sang bà Đ có chữ ký của bà N, trong phần ký giáp ranh của các hộ xung quanh. Bị đơn và người thừa kế tố tụng của ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có đơn phản tố yêu cầu: Công nhận phần diện tích đất 83,6m² thửa 77, loại đất cây lâu năm tại vị trí A, diện tích đất 16,6m², thửa 77, loại đất cây lâu năm tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 cho hộ bà Phan Thị Đ. Tuy nhiên, bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố, cụ thể là rút phần yêu cầu Công nhận diện tích đất 16,6m², thửa 77, loại đất cây lâu năm tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 cho hộ bà Phan Thị Đ.
Bà Nguyễn Hồng N1 đại diện cho bị đơn bà Huỳnh Thị Thảo T trình bày như sau:
Bà N1 thống nhất toàn bộ yêu cầu và trình bày của bà T nêu trên và không có ý kiến gì thêm.
Người thừa kế tố tụng của bị đơn ông Huỳnh Văn H là bà Phan Thị Đ, bà Huỳnh Thị Thảo T, ông Huỳnh Tuấn A và bà Diệp Thị H1.
Bà Huỳnh Thị Thảo T với tư cách là người thừa kế tố tụng của ông Huỳnh Văn H và đồng thời đại diện cho bà Diệp Thị H1 trình bày: Thống nhất trình bày trên của bà Huỳnh Thị Thảo T nêu trên và không có ý kiến gì thêm. Theo bản tự khai của bà Đ và Tuấn A ngày 25/5/2023 trình bày thống nhất như bà T trình bày nêu trên.
Các bị đơn và những người thừa kế tố tụng của bị đơn ông H, có đơn yêu cầu phản tố như sau:
- Yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất 83,6m², thửa 77, loại đất cây lâu năm tại vị trí A theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 cho hộ bà Phan Thị Đ; Công nhận phần diện tích đất 16,6m², thửa 77, loại đất CLN tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 cho hộ bà Phan Thị Đ. Tuy nhiên đối với diện tích đất 16,6m² các bị đơn đã nộp đơn rút yêu cầu phản tố ngày 03/3/2023.
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Văn Q trình bày: Thống nhất với lời trình bày của phía nguyên đơn.
Bà Nguyễn Ngọc H3 trình bày: Thống nhất với lời khai của bà T và có văn bản yêu cầu xét xử vắng mặt.
Trước khi chết bà Đặng Thị T2 nộp bản tự khai ngày 03/6/2022 với nội dung trình bày: Ngày 4/4/1995, bà Đặng Thị T2 và chồng Nguyễn Hồng Đ1 có bán cho bà Thái Ngọc N diện tích đất 20,5 m² chiều ngang đầu đất ngoài 4m đầu trong 4,5m, kể cả nửa mương và trên bờ tọa lạc tại số E ấp B, xã L cho bà Thái Ngọc N để làm lối đi với số vàng là một chỉ 24 k. Bà T2 đã nhận vàng. Bà cho rằng bán đất cho bà Thái Ngọc N trước, sau đó vài năm sau bà bán đất cho bà Phan Thị Đ (lâu quá lớn tuổi tôi không nhớ). Hiện nay chồng bà đã mất. Bà có 6 người con: Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn Đ3, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Kiều L, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Văn H2. Nguồn gốc bán là của cha chồng bà là ông Phan Văn D cho vợ chồng lúc cho đã có bán phần rồi. Lúc bán đất cho bà Phan Thị Đ thì đã giao giấy đất để đi làm giấy tờ.
Tại các bản tự khai ngày 05/6/2023 của các ông Nguyễn Văn Đ2, ông Nguyễn Văn Đ3, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị Kiều L, bà Nguyễn Thị T3, ông Nguyễn Văn H2 là người thừa kế tố tụng của bà Đặng Thị T2 thống nhất trình bày: Năm 1995, ông Nguyễn Hồng Đ1 và bà Đặng Thị T2 có bán cho vợ chồng ông Phạm Văn Q và bà Thái Ngọc N một phần đất (ngang đầu ngoài 4 m, đầu trong 4,5 m, dài 19,8 m) giáp ranh đất với bà Huỳnh Thị Â. Lúc đó, chỉ làm giấy tay mua bán mà chưa đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Đ1 và bà T2 đã giao toàn quyền cho ông Q và bà N sử dụng phần đất đã mua nói trên cho đến nay. Năm 2001, gia đình bà Phan Thị Đ mua mảnh đất của ông Đ1 và bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 11003233/1.11, thửa 77, tờ bản đồ 10, diện tích 1217m² cấp ngày 05/02/2007, phần đất này đã gộp luôn phần diện tích đất mà ông Phạm Văn Q và bà Thái Ngọc N đã mua trước đó.
Những người thừa kế tố tụng của ông Đ1 và bà T2 xác nhận: Gia đình bà Thái Ngọc N đã mua phần đất của ông Đ1 và bà T2 trước gia đình bà Phan Thị Đ. Khi ông Đ1 và bà T2 bán thửa đất cho gia đình bà Đ đã có nói là một phần đất nằm giáp ranh đất bà Huỳnh Thị Â đã bán cho gia đình bà N và có yêu cầu bà Đ khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phải cắt ra trả phần đất cho gia đình bà N đã mua. Yêu cầu quý Tòa xem xét, giải quyết yêu cầu gia đình bà Phan Thị Đ cắt trả lại phần đất nói trên cho gia đình bà Thái Ngọc N.
Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ có văn bản số 2222/UBND-NCPC ngày 16/5/2023 trình bày như sau: Về nguồn gốc thửa đất, trình tự, thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số vào sổ H 003233 cấp ngày 05/02/2002 được thực hiện đúng quy định tại thời điểm cấp giấy, thửa đất số 77 hiện chưa có quyết định thu hồi đất. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy xem xét, giải quyết theo quy định và yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Tại bản án sơ thẩm số 63/2023/TLST-DS, ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thuỷ đã tuyên xử như sau:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thái Ngọc N. Về việc yêu cầu các bị đơn giao trả phần đất diện tích 83,6 m² thuộc thửa đất 77 tại vị trí A kích thước các cạnh theo Bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT của Trung tâm K, lập ngày 10/8/2022 (Đính kèm).
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn về việc yêu cầu công nhận 83,6 m² diện tích đất cây lâu năm cho các bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn tại vị trí A. Ghi nhận việc các bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn tự nguyện đưa phần đất tại vị trí A là lối đi chung.
Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn về việc yêu cầu công nhận 16,6m², thửa đất 77, loại đất cây lâu năm tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022.
Đối với phần diện tích đất cây lâu năm có biến động tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1,8m² tạm giao cho các bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn tiếp tục quản lý sử dụng, tại vị trí A theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố K, thuộc thửa số 77, loại đất cây lâu năm, tờ bản đồ số 10, được Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp GCN: H 003233/LH cấp ngày 08/11/2016 cho hộ bà Phan Thị Đông
Giao 02 (hai) cây cau trên đất tại vị trí A theo bản trích đo cho các bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn được toàn quyền quyết định.
Các bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh biến động quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 15/8/2023, nguyên đơn bà Thái Ngọc N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị sửa án theo hướng buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn phần diện tích đất tại vị trí A theo bản trích đo địa chính có chiều ngang ngoài 4m, chiều ngang trong 4.5m, chiều dài 19.8m. Đồng thời yêu cầu Toà án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên theo thực tế các bên có quyền sử dụng.
Ngày 16/8/2023, bị đơn bà Phan Thị Đ, bà Huỳnh Thị Thảo T, ông Huỳnh Tuấn A1 kháng cáo yêu cầu xem xét chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn công nhận diện tích 83.6m² tại vị trí A cho bị đơn và người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Huỳnh Văn H. Ghi nhận bị đơn và người thừa kế của ông H tự nguyện đưa phần đất tại vị trí A làm lối đi chung.
Ngày 14/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VKS-DS, đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Nguyên đơn bà Thái Ngọc N trình bày: Phần đất tranh chấp trước đây bà nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Hồng Đ1 và bà Đặng Thị T2 để làm đường đi diện tích ngang đầu ngoài 4m, ngang đầu trong 4,5m, chiều dài 19,8m tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, khi bà T2 chuyển nhượng đất cho bà Đ thì trong quá trình làm thủ tục đã cấp giấy chồng lên phần đất của bà N nên giữa hai bên phát sinh tranh chấp. Nay bà N đồng ý thoả thuận với bị đơn phần diện tích đất tranh chấp 83.6m² tại vị trí A của Bản trích đo địa chính ngày 10/8/2022, được sử dụng làm lối đi chung cho cả hai hộ gia đình; đối với cây trồng trên đất gồm 02 cây cau giao cho bà N được quyền định đoạt để làm thông thoáng lối đi; đối với chi phí thẩm định, đo đạc định giá số tiền là 7.800.000 đồng đề nghị chia đôi mỗi bên chịu ½.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị dơn bà Phan Thị Đ, ông Huỳnh Tuấn A - bà Huỳnh Thị Thảo T trình bày: Phía bị đơn đồng ý với đề nghị bà Thái Ngọc N thống nhất thoả thuận phần diện tích đất tranh chấp 83.6m² tại vị trí A của Bản trích đo địa chính ngày 10/8/2022, được sử dụng làm lối đi chung cho cả hai hộ gia đình; đối với cây trồng trên đất gồm 02 cây cau giao cho bà N được quyền định đoạt để làm thông thoáng lối đi. Tuy nhiên đối với chi phí thẩm định, bị đơn chỉ đồng ý chịu 2.800.000đồng, phần còn lại nguyên đơn phải chịu là 5.000.000 đồng; đối với phần đất tranh chấp nếu nhà nước có chính sách sử dụng diện tích đất tranh chấp 83.6m² thì nguyên đơn và bị đơn được hưởng quyền lợi mỗi bên 50/% giá trị quyền sử dụng đất.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Huỳnh Thị Thảo T – bà Nguyễn Hồng N1 trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của bà T và đề nghị phần diện tích đất thoả thuận làm lối đi chung 83.6m² được ghi nhận trong giấy chứng nhận của bị đơn.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Diệp Thị H1 – bà Huỳnh Thị Thảo T trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của bà T và đề nghị phần diện tích đất thoả thuận làm lối đi chung 83.6m² được ghi nhận trong giấy chứng nhận của bị đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Thái Ngọc N - Luật sư Châu Thanh B trình bày: Nguyên đơn thống nhất với ý kiến trình bày của bà Huỳnh Thị Thảo T, nhưng đề nghị phần chi phí thẩm định chia đôi, phần đường đi hai bên phải giữ lối đi chung thông thoáng không để vật gì cản trở, phía bà N sẽ đốn bỏ hai cây cau và ghi chú phần đường đi này trong giấy của bà N. Đề nghị ghi nhận lối đi chung trong giấy chứng nhận của hai bên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Phan Thị Đ, ông Huỳnh Tuấn A, bà Huỳnh Thị Thảo T – Luật sư Phạm Xuân T1 trình bày: Phần chi phí thẩm định bị đơn chỉ đồng ý chịu 2.800.000 đồng, nếu nguyên đơn không đồng ý thì đề nghị ghi nhận vì phần này nguyên đơn không kháng cáo để xem xét lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Nhận thấy, trên cơ sở lời trình bày của các đương sự và qua diễn biến tại phiên tòa kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 300, khoản 2 điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Thái Ngọc N, bị đơn bà Phan Thị Đ, ông Huỳnh Tuấn A, bà Huỳnh Thị Thảo T thực hiện thủ tục kháng cáo đúng thời hạn và nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thuỷ, thực hiện thủ tục kháng nghị trong hạn luật định.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn giao trả lại diện tích ngang đầu ngoài 4,0m, ngang đầu trong 4,5m, chiều dài 19,8m tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ do hộ bà Phan Thị Đ quá trình làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp chồng lấn lên diện tích đất nói trên của bà N, đối với cây trồng trên đất không tranh chấp. Các bị đơn và người người thừa kế tố tụng của bị đơn có đơn phản tố yêu cầu công nhận 83,6m² tại vị trí A và 16,6 m² tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và môi trường thành phố K. Quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung tranh chấp, nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc phía bị đơn trả lại cho nguyên đơn phần diện tích 83,6 m² lấn chiếm thuộc thửa số 77, loại đất cây lâu năm, tờ bản đồ số 10, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 08/11/2016 cho bà Phan Thị Đ; Được điều chỉnh biến động diện tích còn 833.30m² ngày 26/8/2020.
Bị đơn bà Phan Thị Đ, ông Huỳnh Tuấn A, bà Huỳnh Thị Thảo T và những người thừa kế tố tụng của bị đơn ông Huỳnh Văn H, phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần diện tích đất 83,6m², thửa 77, loại đất cây lâu năm tại vị trí A theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 cho hộ bà Phan Thị Đ; Công nhận phần diện tích đất 16,6m², thửa 77, loại đất CLN tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 cho hộ bà Phan Thị Đ. Quá trình giải quyết vụ án, các bị đơn nộp đơn rút yêu cầu phản tố ngày 03/3/2023, đối với diện tích đất 16,6m², thửa 77.
Theo Bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố K, các bên đang tranh chấp diện tích 83,6 m² tại vị trí A và diện tích 16,6 m² tại vị trí B, thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 10, toạ lạc tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
Về nguồn gốc đất: Ông Nguyễn Hồng Đ1, bà Đặng Thị T2 có quyền sử dụng đất diện tích 3.688m² gồm 02 thửa: thửa số 68 diện tích 1.872m², thửa 108 diện tích 1.816m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 00874/QSDĐ cấp ngày 23/12/1994 mang tên ông Nguyễn Hồng Đ1.
Theo “Tờ nhượng đất” viết tay ngày 04/4/1995, ông Nguyễn Hồng Đ1, bà Đặng Thị T2 chuyển nhượng cho bà Thái Ngọc N diện tích đất chiều dài 20.5m, chiều ngang đầu ngoài 4m, chiều ngang đầu trong 4.5m, kể cà nữa mương và trên bờ, toạ lạc tại tổ E, ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ, để làm lối đi với số vàng là 01 chỉ (vàng 24k). Ông Đ1, bà T2 nhận đủ vàng và giao đất cho bà N trọn quyền sử dụng tại thời điểm ký tên vào tờ nhượng đất. Bà N đã nhận đất sử dụng từ năm 1995 cho đến nay.
Theo “Giấy sang nhượng đất vườn” ngày 19/10/2001 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/10/2001, ông Nguyễn Hoàng Đ4 chuyển nhượng cho bà Phan Thị Đ diện tích đất 1.200m², thuộc một phần thừa 68, tờ bản đồ số 12, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00874/QSDĐ cấp ngày 23/12/1994. Bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 03398/QSDĐ ngày 14/11/2000, diện tích đất 1.207,5m², thửa 413, tờ bản đồ số 12, toạ lạc tại ấp B, xã L, thành phố Cần Thơ.
Tại Đơn xin đăng ký, cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/03/2004, bà Phan Thị Đ kê khai đăng ký thửa 77, diện tích 1.158m², tờ bản đồ số 10, toạ lạc tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Bà Phan Thị Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H 003233/LH ngày 05/02/2007 diện tích 1.217.0m², thửa 77, tờ bản đồ số 10. Sau đó bà Đ chuyển nhượng cho con gái là Huỳnh Thị Thảo T một phần diện tích 383.7m², phần diện tích còn lại 833.3m² được chỉnh lý ngày 26/8/2020 (BL 86-113).
[4] Về nội dung yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận bình Thuỷ. Xét thấy, tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thống nhất thoả thuận được với nhau các nội dung tranh chấp trong vụ án nên Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận của các đương sự như sau:
- Nguyên đơn và bị đơn thống nhất diện tích đất 83,6m² tại vị trí A, chiều dài cạnh ngoài 19.54m, chiều dài cạnh trong 19.73, chiều ngang đầu ngoài 4.0m, chiều ngang đầu trong 4.53 m thuộc thửa 77, tờ bản đồ số 10, theo Bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 của Trung tâm K, được sử dụng làm lối đi chung cho hai hộ gia đình của bà Thái Ngọc N và bà Phạm Thị Đ5, các bên thống nhất lối đi chung theo thoả thuận được ghi nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Thái Ngọc N và bị đơn bà Phan Thị Đ.
- Trường hợp Nhà nước có chính sách sử dụng đất đối với diện tích 83,6m² tại vị trí A được thoả thuận làm lối đi chung như trên thì quyền lợi của nguyên đơn và bị đơn mỗi bên được nhận tương ứng 50% giá trị quyền sử dụng đất.
- Đối với cây trồng trên đất gồm có 02 cây cau tại vị trí A, nguyên đơn và bị đơn thống nhất giao cho bà Thái Ngọc N định đoạt, buộc nguyên đơn và bị đơn phải giữ thông thoáng lối đi không ai được để vật dụng, cây trồng làm cản trở lối đi chung.
Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn về việc yêu cầu công nhận 16,6m², thửa đất 77, loại đất cây lâu năm tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 do rút một phần yêu cầu phản tố.
[5] Về chi phí tố tụng là tiền đo đạc, định giá: Tổng số tiền là 7.800.000 đồng. Tại phiên toà, nguyên đơn đề nghị chia đôi chi phí tố tụng do đã thoả thuận được nội dung tranh chấp. Xét phần này các bên không kháng cáo nên không thuộc phạm vi xem xét của cấp phúc thẩm, nhưng do bị đơn tự nguyện chịu 2.800.000 đồng chi phí, nguyên dơn không đồng ý nhưng việc này được xem là có lợi cho nguyên đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thoả thuận của các đương sự nên nguyên đơn bà Thái Ngọc N, bị đơn bà Phan Thị Đ, ông Huỳnh Tuấn A, bà Huỳnh Thị Thảo T nên các đương sự không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 697; Điều 698 Bộ luật dân sự năm 2005;
Điều 353; Điều 357; Điều 425; Điều 427; Điều 468; Điều 500; Điều 503; Bộ Luật dân sự (năm 2015); Điều 127 Luật đất đai năm 2003, sửa đổi bổ sung năm 2009;
Điều 167; Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Sửa bản án sơ thẩm.
- Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Nguyên đơn và bị đơn thống nhất diện tích đất 83,6m² tại vị trí A, chiều dài cạnh ngoài 19.54, chiều dài cạnh trong 19.73, chiều ngang đầu ngoài 4.0m, chiều ngang đầu trong 4.53m, thuộc một phần thửa 77, tờ bản đồ số 10, toạ lạc tại khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ, theo Bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 của Trung tâm K, được sử dụng làm lối đi chung cho hai hộ gia đình của bà Thái Ngọc N và bà Phạm Thị Đ5, lối đi chung theo thoả thuận được ghi nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Thái Ngọc N và bị đơn bà Phan Thị Đ. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 của Trung tâm K)
- Trường hợp Nhà nước có chính sách sử dụng đất đối với diện tích 83,6m² tại vị trí A thì quyền lợi của nguyên đơn và bị đơn mỗi bên được nhận tương ứng 50% giá trị quyền sử dụng đất 83,6m² tại vị trí A.
- Đối với cây trồng trên đất gồm có 02 cây cau tại vị trí A, nguyên đơn và bị đơn thống nhất giao cho bà Thái Ngọc N định đoạt. Buộc nguyên đơn và bị đơn phải giữ thông thoáng lối đi không ai được để vật dụng, cây trồng làm cản trở lối đi chung tại vị trí A.
Các bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn, nguyên đơn có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh biến động quyền sử dụng đất về lối đi chung tại vị trí A theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố K, theo quyết định của bản án.
- Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn và người thừa kế tố tụng của bị đơn về việc yêu cầu công nhận 16,6m², thửa đất 77, loại đất cây lâu năm tại vị trí B theo bản trích đo địa chính số 95/TTKTTNMT ngày 10/8/2022 do rút một phần yêu cầu phản tố.
- Về chi phí thẩm định đo đạc, định giá: Tổng số tiền là 7.800.000 đồng (bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Nguyên dơn bà Thái Ngọc N phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Ghi nhận bị đơn bà Phan Thị Đ, ông Huỳnh Tuấn A1, bà Huỳnh Thị Thảo T tự nguyện chịu 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) chi phí. Nguyên đơn đã nộp xong toàn bộ số tiền này nên buộc bị đơn bà Phan Thị Đ, ông Huỳnh Tuấn A1, bà Huỳnh Thị Thảo T phải nộp lại số tiền 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng) để giao trả cho bà Thái Ngọc N.
- Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo diện người cao tuổi.
Bà Phan Thị Đ, bà Huỳnh Thị Thảo T, ông Huỳnh Tuấn A và bà Diệp Thị H1 được nhận lại 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0002991 ngày 08/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Thái Ngọc N, bị đơn bà Phan Thị Đ không phải nộp.
Bị đơn ông Huỳnh Tuấn A, bà Huỳnh Thị Thảo T không phải nộp nên được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002388 ngày 21/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn theo diện người cao tuổi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bích Hải |
Bản án số 163/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Số bản án: 163/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nói - Đông - Tranh chấp QSD đất
