| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
|
Bản án số: 163/2025/DS-PT Ngày 11 - 4 - 2025 V/v Tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Hoàng
Ông Nguyễn Trọng Quế
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 41/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hụi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 280/2024/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 79/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc O, sinh năm 1978.
- Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hồ Văn K, sinh năm 1983; Địa chỉ cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 01 tháng 10 năm 2024, có mặt).
- - Bị đơn: Bà Huỳnh Hồng D, sinh năm 1975 (có mặt).
- Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Liễu H, sinh năm 1984 (vắng mặt).
- Ông Lê Minh K1, sinh năm 1982 (vắng mặt).
- Cùng địa chỉ cư trú: Ấp S, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.
- - Người kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc O là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- - Người đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn, ông Hồ Văn K trình bày:
- Vào ngày 10/8/2023 (al), bà O có tham gia dùm bà D 01 chân hụi, loại hụi 1.000.000 đồng do ông K1 và bà H làm chủ, hụi khui mỗi tháng 01 lần vào ngày 10 hàng tháng, hụi gồm 26 chân, trong đó chân hụi bà O tham gia dùm cho bà D thuộc số thứ tự số 26, ghi tên O trong danh sách hụi.
- Khi bà O tham gia dùm bà D lần thứ 06 (ngày 10/02/2024 al) thì bà D nhờ hốt hụi dùm, bà O đã hốt hụi dùm bà D và đã đưa đủ cho bà D số tiền hụi hốt là 19.450.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi hốt hụi bà D đưa tiền đóng hụi chết cho bà đến hết lần thứ 10 thì không đưa tiền đóng hụi chết đến nay, hiện bà D còn nợ bà 02 kỳ hụi chết đã khui với số tiền 2.000.000 đồng, hụi còn 13 lần nữa mãn với số tiền là 13.000.000 đồng, tổng số tiền hụi chưa khui và hụi đã khui mà bà D còn thiếu bà O là 15.000.000 đồng.
- Nay bà O yêu cầu bà D trả cho bà O số tiền nợ hụi là 15.000.000 đồng. Trong đó: 2.000.000 đồng tiền hụi chết đã khui, 13.000.000 đồng tiền hụi chết chưa khui.
- - Bị đơn, bà Huỳnh Hồng D trình bày:
- Bà không có nhờ bà O tham gia bất cứ dây hụi nào, từ trước đến nay bà với bà O cũng không có giao dịch nào với nhau, bà O cho rằng đã hốt hụi và giao tiền hụi cho bà nhưng bà không có ký tên xác nhận nhận tiền đồng thời hiện nay bà cũng không có tham gia dây hụi nào do bà H, ông K1 làm chủ hụi nên bà O cho rằng bà có nhờ bà O tham gia hụi 1.000.000 đồng ngày 10/8/2024 âm lịch do bà H, ông K1 làm chủ hụi là không có, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Lê Minh K1 trình bày:
- Ông và bà H có làm chủ hụi dây hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 10/8/2023 gồm 26 chân, khui 01 tháng 01 lần vào ngày 10 hàng tháng, khi mở dây hụi này thì bà O có liên hệ nói bà D có nhờ bà O chơi dùm 01 chân, do bà O là em vợ bà con cô cậu với ông nên ông đồng ý nhưng thống nhất bà O là người tham gia nên ghi tên hụi viên là O và bà O là người có nghĩa vụ đóng hụi cho ông bà, bà O đồng ý, khi tham gia hụi bà O đã hốt hụi và ông đã giao đủ số tiền hụi cho bà O, ông xác định bà O là người tham gia hụi và chịu trách nhiệm với ông, còn việc bà O và bà D thỏa thuận như thế nào thì ông không biết, việc bà O tham gia hụi dùm bà D thì ông chỉ nghe bà O nói, ông cũng không có gom tiền hụi từ bà D. Hiện nay ông vẫn khui dây hụi này và bà O đang đóng chưng hụi này cho ông. Ông không có mâu thuẫn gì với bà O và bà D.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Phan Thị Liễu H trình bày:
- Bà và ông K1 làm chủ dây hụi mở ngày 10/8/2023, mệnh giá 1.000.000 đồng, gồm có 26 chưng, mỗi tháng khui một lần vài ngày 10 hàng tháng. Khi mở hụi thì bà O có liên hệ với bà nói bà D có nhờ bà O tham gia dùm 01 chưng hụi, do bà O là em bà con với bà nên bà đồng ý và có nói giữa bà O với bà D thỏa thuận như thế nà bà không biết, sau này bà chỉ gom hụi và giao hụi cho bà O nên danh sách hụi viên ghi tên là O. Bà xác định việc tham gia hụi và giao dịch hụi thì giữa bà và bà O giao dịch, bà O tham gia 01 phần và bà O đã hốt hụi, bà đã giao đủ số tiền hụi hốt cho bà O. Từ khi tham gia hụi đến khi hốt hụi thì giữa bà với ông K1 trực tiếp giao dịch với bà O từ việc khui hụi, bỏ thăm hốt hụi, nhận tiền hụi hốt. Bà có nghe bà O tham gia dùm bà D còn giao dịch giữa hụi viên và chủ hụi thì bà O trực tiếp giao dịch cũng như chịu trách nhiệm với chủ hụi, giữa bà O và bà D thỏa thuận như thế nào thì bà không biết. Hiện nay dây hụi này chưa mãn, bà vẫn khui hụi và bà O đang đóng phần hụi này cho bà. Bà không có mâu thuẫn gì với bà O và bà D.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 280/2024/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau quyết định:
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc O về việc yêu cầu bà Huỳnh Hồng D trả số tiền 15.000.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/12/2024, bà Nguyễn Ngọc O có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Ngọc O giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Hồ Văn K tranh luận: Sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án, bà D không có ý kiến phản đối. Ông M là chồng đã ly hôn với bà O làm chứng bà D có nhận tiền hốt hụi từ bà O. Ông K1, bà H là chủ hụi có nghe bà O nói bà D nhờ chơi hụi. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà O. Sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc O.
Bị đơn, bà Huỳnh Hồng D tranh luận: Bà không có nhờ bà O chơi hụi dùm nên không đồng ý trả tiền cho nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc O. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 280/2024/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc O, Hội đồng xét xử nhận định:
- Bà Nguyễn Ngọc O cho rằng: Bà Huỳnh Hồng D có nhờ bà O vô dùm 01 chân hụi 1.000.000 đồng khui ngày 10 tháng 8 năm 2023 (al) do ông Lê Minh K1, bà Phan Thị Liễu H làm chủ. Trình bày này của bà O không có văn bản chứng minh. Tại danh sách hụi thể hiện bà O là hụi viên chứ không phải bà D.
- Xét trình bày của ông K1, bà H là người mở dây hụi trên thể hiện: Khi mở dây hụi này, bà O có liên hệ với ông K1, bà H nói bà Huỳnh Hồng D có nhờ bà O chơi dùm 01 chân; do bà O là em vợ bà con cô cậu với ông K1 nên ông K1 đồng ý nhưng thống nhất bà O là người tham gia nên ghi tên hụi viên là O và bà O là người có nghĩa vụ đóng hụi cho ông K1, bà H. Khi tham gia hụi bà O đã hốt hụi và ông đã giao đủ số tiền hụi cho bà O, ông xác định bà O là người tham gia hụi và chịu trách nhiệm với ông, còn việc bà O và bà D thỏa thuận như thế nào thì ông không biết. Như vậy, bà O là người trực tiếp tham gia góp hụi, hốt hụi và nhận tiền hốt hụi từ ông K1, bà H; còn việc bà D nhờ bà O chơi hụi dùm thì ông K1, bà H chỉ nghe bà O nói lại.
- Bà O cho rằng, khi hốt hụi được số tiền 19.450.000 đồng, thì bà O đã giao tiền cho bà D nhưng không bà O không cung cấp được biên nhận nhận tiền của bà D; bà D cũng không thừa nhận nên trình bày này của bà O không có chứng cứ chứng minh. Án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không cung cấp chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
- Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc O. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 280/2024/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Ngọc O phải chịu 300.000 đồng. Bà O có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Ngọc O.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 280/2024/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc O về việc yêu cầu bà Huỳnh Hồng D trả số tiền 15.000.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc O phải chịu 750.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 375.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003854 ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, bà O còn phải nộp 375.000 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Ngọc O phải chịu 300.000 đồng. Ngày 03 tháng 01 năm 2025, bà O có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003717 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 163/2025/DS-PT ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 163/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nay bà O yêu cầu bà D trả cho bà O số tiền nợ hụi là 15.000.000 đồng. Trong đó: 2.000.000 đồng tiền hụi chết đã khui, 13.000.000 đồng tiền hụi chết chưa khui.
