|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 163/2024/HSST Ngày: 22 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Văn Tòng
- Ông: Bùi Quốc Kiên.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hà Thị H - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 151/2024/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXX- ST, ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Thị N - Sinh ngày 26/9/1996, số CCCD: [...], tại phường X, TX. N, Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: TDP D, phường X, thị xã N, Thanh Hóa; Nơi ở trước khi chấp hành án: Phố T, phường Q, TP T, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông: Đỗ Văn L – sinh năm 1966 và con bà Hoàng Thị T – sinh nămn 1971; Chồng Hoàng Ngọc T1 – sinh năm 1990, có 04 con lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 12/5/2021, bị TAND TP. Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm” theo bản án số 190/2021/HSST, tại thời điểm phạm tội N đang được hoãn chấp hành án. Hiện tại N đang chấp hành án tại trại giam T6 từ ngày 30/7/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: anh Lê Hữu T2 – sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn B, xã H, TX. N, Thanh Hóa.
+ anh Hoàng Ngọc T1 – sinh năm 1990
Địa chỉ: Phố T, phường Q, TP T, Thanh Hóa.
+ anh Trần Vũ N1 – sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, Q, Thanh Hóa.
+ chị Hoàng Thị H1 – sinh năm 2004
Địa chỉ: Thôn T, xã T, TX. N, Thanh Hóa
+ chị Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1995
Địa chỉ: Thôn T, xã T, TX. N, Thanh Hóa.
+ Chị Lê Thị T3 – sinh năm 1981
Địa chỉ: TK F, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 05/3/2024, Lê Hữu T2, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã H, thị xã N điều khiển xe ô tô con BKS 30H-247.83 dừng đỗ tại điểm đón trả khách của bến xe Buýt trước Đài truyền hình thị xã N thuộc địa phận tiểu khu F, phường H, thị xã N để chờ lấy hàng vận chuyển ra thành phố T. Cùng lúc này có Hoàng Ngọc T1, sinh năm 1990, trú tại phố T, phường Q, thành phố T điều khiển xe ô tô con BKS 36A-847.72 chở theo vợ là Đỗ Thị N, sinh năm 1996 đi cùng chiều phía sau đến dừng xe song song với xe của T2. Thấy có một số khách đứng tại bến, Ngọc hạ cửa kính ô tô xuống hỏi xem có ai bắt xe đi thành phố T không, thì T2 nói lại không có ai đi, sau đó giữa N và T2 có xảy ra cãi vã, N mở cửa xe xuống chửi bới T2. Thấy vậy, T2 điều khiển xe ô tô BKS 30H-247.83 đi lên phía trước một đoạn khoảng 38m thì dừng lại, đỗ xe sát lề đường. N đi bộ theo xe của T2 tiếp tục chửi bới, khi thấy T2 mở cửa xuống xe, thì N xông đến, trên tay cầm 01 chiếc bút bi có vỏ nhựa màu xanh, dài khoảng 12cm đâm chọc vào đầu và mặt của T2 gây thương tích ở vùng chẩm trái và má trái. Bị đánh, T2 dùng tay đẩy N ra, thấy vậy T1 chạy lại dùng tay đấm T2, T2 cũng dùng tay đấm lại T1, sau đó được một số người dân vào can ngăn nên cả hai không đánh nhau nữa. Quá trình N chửi bới rồi cầm chiếc bút bi đánh T2 trên Quốc lộ A đã gây náo loạn khu vực đường phố, thời điểm có đông người và phương tiện lưu thông đã làm mất trật tự nơi công cộng, gây cản trở hoạt động giao thông, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự (BL số 254, 255).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 tệp video ghi lại hình ảnh, diễn biến sự việc Đỗ Thị N chửi bới, đánh gây thương tích cho anh Lê Hữu T2 trên Quốc lộ A được trích xuất từ Camera an ninh của cửa hàng F do bà Lê Thị T4 quản lý và Camera an ninh của gia đình chị Lê Thị T3 ở tiểu khu F, phường H, thị xã N. Toàn bộ dữ liệu được lưu trữ trong 02 chiếc USB màu đen, có chữ K (BL số 73,74).
Tại bản kết luận giám định số 2216/KL-KTHS ngày 11/6/2024, phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 tệp video của 02 USB gửi giám định. Sau khi giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại 02 chiếc USB kèm theo các tài liệu giám định để đưa vào hồ sơ vụ án theo quy định (BL 83).
Tại bản kết luận giám định số 2075/KL-KTHS ngày 26/3/2024, V, Bộ C, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Hữu T2 tại thời điểm giám định là 04% (BL 52).
Tại bản kết luận giám định số 2781/KL-KTHS ngày 24/4/2024, V, Bộ C, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Thị N tại thời điểm giám định là 00% (BL 55).
Quá trình điều tra bị can Đỗ Thị N đã thành khẩn khai báo hành vi đánh nhau gây rối trật tự nơi công cộng của bản thân. Lời khai của bị can phù hợp với hình ảnh Video clip thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Đối với hành vi của Đỗ Thị N sử dụng chiếc bút bi, đầu bút nhọn là hung khí nguy hiểm đâm gây thương tích cho anh Lê Hữu T2 làm tổn thương cơ thể 04% đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, ngày 15/5/2024, anh T2 đã có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với N về hành vi gây thương tích nên có căn cứ xử lý hình sự đối với N về hành vi này.
Đối với hành vi của Lê Hữu T2 dùng tay không đánh lại N và T1 khi bị tấn công, quá trình điều tra xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của N là 0%, còn anh Hoàng Văn T5 từ chối giám định và không yêu cầu khởi tố. Mặt khác, trong vụ án này T2 là người người bị tấn công trước nên việc T2 dùng tay không đánh trả lại N và T5 mang tình chất phòng vệ nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với Hoàng Văn T5, khi thấy vợ mình là Đỗ Thị N xô xát với anh Lê Hữu T2 đã xông lại dùng tay đánh T2, sau đó được mọi người can ngăn. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của T5 tham gia đánh nhau gây rối mức độ không đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Công an thị xã N để xử phạt vi phạm hành chính đối với T5 theo quy định.
Bản cáo trạng số 173/CT-VKSNS ngày 04 tháng 11 năm 2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố bị cáo Đỗ Thị N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát thay đổi điều luật truy tố Đỗ Thị Ngọc về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS và đề nghị HĐXX;
- 1. Căn cứ: khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 và Điều 38 BLHS.
- - Xử phạt: Đỗ Thị N từ 07 đến 10 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản sán số 190/2021/HSST, ngày 12/5/2021 của TAND Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa buộc bị cáo phải chấp hành chung.
- - Án phí: bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Thừa nhận hành vi chửi bới, dùng bút bi tấn công anh T2 tại đường QL1A, nơi tập trung đông người và các phương tiện giao thông qua lại, gây mất trật tự đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Tại phiên toà, bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, thừa nhận hành vi gây rối trật tự của bản thân xảy ra tại đoạn đường QL1A trước khu vực bến xe buýt đến trước cửa hàng bán điện thoại FPT sop thuộc địa phận TK6, phường H, TX. N, Thanh Hóa. Vì vậy đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn, xích mích trong việc đón khách nên vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/6/2023, tại đoạn đường QL1A trước khu vực bến xe buýt đến trước cửa hàng bán điện thoại FPT sop thuộc địa phận TK6, phường H, TX. N, Thanh Hóa, Đỗ Thị N đã có hành vi chửi bới và sử dụng một chiếc bút bi bằng nhựa đâm vào mặt anh lê Hữu T2. Hành vi của Đỗ Thị N đã gây náo loạn khu vực đường phố tại thời điểm có đông người và phương tiện lưu thông, làm mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho những người dân có mặt trên đoạn đường này, ảnh hưởng đến hoạt động và sinh hoạt bình thường của người dân tại khu vực, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Đối với hành vi của Hoàng Ngọc T1 khi nhìn thấy vợ mình và anh Lê Hữu T2 có xảy ra xô xát có xông lại dùng tay không đánh T2 tuy nhiên xét thấy hành vi của T1 chưa đến mức khởi tố hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng.
Lê Hữu T2 có dùng tay không đánh trả lại N và T1 khi bị tấn công, xét thấy hành vi của Lê Hữu T2 nhằm mục đích mang tính chất phòng vệ nên chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây mất trật tự công cộng.
Tại phiên tòa Đại diện VKS giữ quyền công tố tại phiên tòa thay đổi một phần nội dung truy tố bị cáo Đỗ Thị N từ hành vi sử dụng hung khí gây rối trật tự công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 BLHS xuống khoản 1 Điều 318 BLHS, HĐXX nhận thấy việc thay đổi của Viện kiểm sát là đúng vì chiếc bút bi chỉ được xác định là hung khí đối với hành vi gây thương tích vì khi sử dụng có thể gây thương tích còn trong hành vi gây rối trật tự công cộng một người cầm chiếc bút bi trong tay không gây nguy hiểm hay gây tâm lý hoang mang lo sợ đối với những người xung quanh. Vì vậy việc VKS ND Thị xã N truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 318 BLHS là đúng theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Do vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng theo quy định của pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án:
Đây là vụ án hình sự gây rối trật tự công cộng ít nghiêm trọng và có tính chất giản đơn, bột phát, do không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã có hành vi gây rối trật tự tại khu vực đường QL1A nơi có nhiều người dân đang tập trung và có nhiều phương tiện giao thông. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Vì vậy cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra.
[4]. Xét về vai trò, hành vi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy:
Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự, và dùng bút bi gây thương tích cho anh Lê Hữu T2, tuy nhiên bị cáo cho rằng bị cáo là người bị anh T2 dùng lời lẽ thô tục, xúc phạm bị cáo, tấn công bị cáo trước, bị cáo không thừa nhận hành vi của bị cáo là gây rối trật tự nơi công cộng, tuy nhiên tài liệu có trong hoò sơ vụ án, video thu thập tại camera nhà chị Lê Thị T3, lời khai của các nhân chứng đều thể hiện bị cáo đã có hành vi chửi bới, xúc phạm anh T2, gây thương tích cho anh T2 sau đó anh T2 mới dùng tay không đấm vào người bị cáo để phòng vệ. Tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức và thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhuyw bản cáo trạng truy tố. Xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố là người có công với cách mạng nên được áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51BLHS, để lượng giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật đối với người đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật.
Bị cáo phạm tội có một tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật.
[5]. Xét về phần vật chứng: Chiếc bút bi bị cáo sử dụng gây thương tích cho anh T2, quá trình điều tra CQĐT không thu giữ được nên HĐXX không xem xét.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1,2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS.
- Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
- Xử phạt: Đỗ Thị N 08 tháng tù. Tổng hợp với 06 tháng tù của bản án số 190/2021/HSST, của TAND Thành phố Thanh Hóa là 14 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 30/7/2024 (ngày bị cáo chấp hành án của bản án số190/2021/HSST). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
+ Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Cúc |
Bản án số 163/2024/HSST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 163/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xuất phát từ mâu thuẫn, xích mích trong việc đón khách nên vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/6/2023, tại đoạn đường QL1A trước khu vực bến xe buýt đến trước cửa hàng bán điện thoại FPT sop thuộc địa phận TK6, phường H, TX. N, Thanh Hóa, Đỗ Thị N đã có hành vi chửi bới và sử dụng một chiếc bút bi bằng nhựa đâm vào mặt anh lê Hữu T2. Hành vi của Đỗ Thị N đã gây náo loạn khu vực đường phố tại thời điểm có đông người và phương tiện lưu thông, làm mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho những người dân có mặt trên đoạn đường này, ảnh hưởng đến hoạt động và sinh hoạt bình thường của người dân tại khu vực, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
