Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số:163/2024/HS-ST

Ngày 14-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa và ông Hoàng Luật

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 172/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024; Thông báo dời lại thời gian mở phiên toà số 339 ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đức Q, sinh năm 1995, tại Đồng Nai. “có mặt”

    Nơi cư trú: tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 và con bà Trần Thị T1, sinh năm 1974. Anh chị em ruột: 03 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: chưa.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 14/6/2024 đến ngày 19/6/2024, được hủy bỏ tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  2. Họ và tên: Trần Thị T2, sinh năm 1980 tại Thanh Hóa. “có mặt”

    Nơi cư trú: khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Trần Xuân D, sinh năm 1954 và con bà Vũ Thị X, sinh năm 1958; Anh chị em ruột: 09 người, bị cáo là con thứ ba; Chồng: Bùi Đức T3 (Đã ly hôn năm 2011).

    Bị cáo có 06 con, lớn nhất sinh năm 1999 và nhỏ nhất sinh năm 2021.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Ngày 19/6/2024, bị khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” và được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  3. Họ và tên: Trần Quang D1, sinh năm 1993 tại Thanh Hóa. “có mặt”

    Nơi cư trú khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1969 và con bà Phạm Thị L, sinh năm 1973. Anh chị em ruột: 05 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1999.

    Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2024.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 14/6/2024 dến ngày 19/6/2024, được hủy bỏ tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  4. Họ và tên: Trần Thanh N, sinh năm 2001 tại Đồng Nai. “có mặt”

    Nơi cư trú: tổ I, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Văn V1, sinh năm 1976 và con bà Trần Thị V2, sinh năm 1974. Anh chị em ruột: 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: chưa.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 14/6/2024 đến ngày 19/6/2024, được hủy bỏ tạm giữ và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 14/6/2024, tại phòng ngủ phía sau nhà của Trần Thị T2 thuộc tổ F, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – Công an huyện Đ phối hợp với Công an thị trấn bắt quả tang các đối tượng gồm: Trần Thanh N, Nguyễn Đức Q, Trần Quang D1 và Trần Thị T2 đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi đánh bài “Cào liêng”. Khi bắt quả tang, Cơ quan Công an đã thu giữ:

- Số tiền 8.410.000 đồng. Bao gồm:

+ Tiền thu tại vị trí các đối tượng là 3.150.000 đồng. Cụ thể: thu tại vị trí ngồi của T2 là 1.650.000 đồng; thu tại vị trí ngồi của Q là 330.000 đồng; thu tại vị trí ngồi của D1 là 950.000 đồng và thu tại vị trí ngồi của N là 220.000 đồng.

+ Tiền thu trong người các đối tượng là 5.260.000 đồng.

Cụ thể: T4 trên người Tơ là 1.200.000 đồng; thu trên người Q là 3.560.000 đồng và thu trên người D1 là 500.000 đồng.

Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 14/6/2024, Trần Thanh N, Nguyễn Đức Q, Trần Quang D1 cùng đi đến chơi tại nhà của Trần Thị T2 ở tổ F, khu phố H, thị trấn Đ. Tại đây, N, Q, D1 và T2 cùng rủ nhau và đồng ý chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Cào liêng”. Sau đó, T2 cung cấp 03 bộ bài tây, trải 01 cái mền xuống nền nhà trong phòng ngủ phía sau nhà T2 rồi cùng với N, Q và D1 đánh bạc. Hình thức đánh bài “Cào liêng” (còn gọi là “Cào tố”) như sau: Mỗi người chơi (được gọi là một tụ) đặt ra 20.000 đồng rồi một người chơi sử dụng bộ bài tây 52 lá chia đều cho các người chơi, mỗi người ba lá bài. Sau khi các người chơi xem bài của mình, nếu mà các người chơi không tố thì bài người cao nhất sẽ thắng hết số tiền đã đặt. Nếu một người nào tố (số tiền tố thấp nhất là 200.000 đồng) thì bài người nào theo thì phải đặt thêm số tiền bằng số tiền người kia tố, mỗi người chơi sẽ được tố không giới hạn. Sau đó, mở bài xem bài ai cao nhất sẽ thắng toàn bộ số tiền đặt và số tiền tố. Tính điểm theo quy ước: Sáp lớn hơn Liêng, L1 lớn hơn Ba cào, Ba cào lớn hơn 09 điểm. Sáp là ba quân bài giống nhau theo thứ tự lớn dần từ Sáp hai đến S (Á), L1 là ba quân bài tạo thành một sảnh trong đó theo thứ tự lớn dần từ một, hai, ba đến Q, K, A (Át), ba cào là gồm một quân bài tây bất kỳ và hai quân bài tây giống nhau. Nếu không có S, L1 và Ba cào thì tính điểm tức cộng số điểm của ba lá bài lấy thứ tự từ số lẻ của cả ba lá bài, cao nhất là 09 (Ví dụ: Có ba quân bài là 9,10,Q được tính là 09 điểm) và nhỏ nhất là 0 điểm (Ví dụ: Có ba quân bài là 10, Q, J được tính là 0 điểm); trong đó các quân bài từ “10” đến “K” được tính là 0 điểm; tụ nào nhiều điểm nhất so với điểm của các tụ bài còn lại sẽ thắng số tiền mà tất cả người chơi đã đặt. Cả nhóm quy định, quá trình đánh bạc nếu ai có vòng tố trên 200.000 đồng mà thắng thì sẽ bỏ ra 20.000 đồng đưa cho T2 để mua nước cùng uống chung với nhau.

Trần Thanh N, Nguyễn Đức Q, Trần Quang D1 và Trần Thị T2 cùng nhau đánh bạc đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra đã xác định số tiền dùng để đánh bạc và kết quả thắng – thua của các đối tượng cho đến khi bị bắt quả tang như sau:

Nguyễn Đức Q có 3.790.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Q thắng được 100.000 đồng nên nên khi bị bắt trên chiếu bạc tại vị trí Q có 330.000 đồng, trong người Q có 3.560.000 và bị thu giữ.

Trần Thị T2 có 2.620.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T2 thắng được 230.000 đồng nên khi bị bắt tại vị trí Tơ có 1.650.000 đồng (bao gồm 20.000 đồng tiền để mua nước), trên người T2 có số tiền 1.200.000 đồng và bị thu giữ.

Trần Quang D1 có 1.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, D1 thắng được 450.000 đồng nên khi bị bắt tại vị trí D1 có 950.000 đồng, trên người D1 có 500.000 đồng và bị thu giữ.

Trần Thanh N có 1.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, N thua 780.000 đồng nên khi bị bắt tại vị trí N còn 220.000 đồng và bị thu giữ.

Tổng số tiền mà các đối tượng dùng để đánh bạc là 8.410.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • Số tiền 8.410.000 đồng là số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • 03 bộ bài tây đã qua sử dụng và 01 cái mền là công cụ mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép nên tạm giữ để tịch thu tiêu hủy.

Tại Cáo trạng số 295/CT-VKSÐQ ngày 04 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Đức Q, Trần Quang D1 và Trần Thị T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội và giữ nguyên Quyết định đã truy tố; Sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp, cụ thể như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 17, Điều 35 điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị:

  • - Xử phạt bị cáo Trần Đức Q1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Thị T2 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Thanh N từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Quang D1 từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.410.000 đồng
  • - 03 bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 cái mền

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện: Vào khoảng 13 giờ ngày 14/6/2024, tại phòng ngủ phía sau nhà của Trần Thị T2 thuộc tổ F, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – Công an huyện Đ phối hợp với Công an thị trấn Đ bắt quả tang: Trần Thanh N, Nguyễn Đức Q, Trần Quang D1 và Trần Thị T2 đang đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi đánh bài “Cào liêng” với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 8.410.000 đồng.
  3. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 295/CT-VKSÐQ ngày 04 tháng 9 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Đức Q, Trần Quang D1 và Trần Thị T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

  4. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương nói riêng, trong thời gian qua tệ nạn đánh bạc gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội nói chung. Đồng thời, các bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của tệ nạn cờ bạc gây ra và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội về đánh bạc. Song vì tham lam, vụ lợi nên các bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải đưa các bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt tương xứng đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
  5. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  6. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  7. Căn cứ quyết định hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, các bị cáo cùng là người thực hành, do đó khi quyết định hình phạt áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, nhân thân người phạm tội, đồng thời căn cứ vào số tiền dùng vào đánh bạc Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo.
  8. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 35 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo.

    Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền.

    Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  9. Về xử lý vật chứng:
    • - Số tiền 8.410.000 đồng. Quá trình điều tra xác định số tiền trên các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước là đúng quy định.
    • - 03 bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 tấm mền. Quá trình điều tra xác định đây là những công cụ mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép xét thấy giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy.
  10. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
  11. Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào

  • - Khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 35, Điều 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức Q, Trần Thị T2, Trần Thanh NTrần Quang D1 phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Trần Thị T2 số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Trần Thanh N số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
    • - Xử phạt bị cáo Trần Quang D1 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  2. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 8.410.000 đồng (tám triệu bốn trăm mười ngàn đồng) (Theo biên lai thu số 0006025 ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).

    Tịch thu, tiêu hủy 03 bộ bài tây đã qua sử dụng; 01 tấm mền. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2024)

  3. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Thanh N, Nguyễn Đức Q, Trần Quang D1 và Trần Thị T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Định Quán;
  • - Công an huyện Định Quán;
  • - Chi cục THA dân sự Định Quán;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 163/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger