Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:163/2024/HSST

Ngày: 05-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Nam
  • 2. Bà Lương Thị Bảo Thuỳ
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lanh Linh -
  • Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
  • - Đại diện Viện KSND Thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn
  • Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày 05/11/2024 tại hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 182/2024/TLST-HS ngày 07/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 18 ngày 31/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Thái Hữu C1; Giới tính: Nam; Sinh năm 1980; Nơi sinh: Nghệ An; HKTT: Tổ A, khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ hàn; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Thái Hữu T, sinh năm 1945 và bà: Hoàng Thị T1, sinh năm 1947; Gia đình có 06 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1991, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Đặng Thị L, sinh năm 1982; có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xử phạt 08 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong vào ngày 18/4/2021.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Tạm giữ" từ ngày 7/3/2024, đến ngày 16/3/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Tạm giam" cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L.

2. Trương Ngọc H; Giới tính: Nữ; sinh năm 1993; Nơi sinh: Đồng Nai; HKTT: B34, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: B, Huỳnh Văn N, khu phố A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Trương Đ, sinh năm 1962 và bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960; Gia đình có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất là bị cáo; Chồng, Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Tạm giữ" từ ngày 7/3/2024, đến ngày 16/3/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Tạm giam" cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố L.

* Người làm chứng: Anh Phùng Thanh T3, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Các bị cáo có mặt, người làm chứng vắng mặt không có lý do),

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thái Hữu C1 và Trương Ngọc H có mối quan hệ tình cảm, cả hai đều là đối tượng sử dụng ma túy. Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, C1 và H đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 05/03/2024, C1 đến thuê phòng số 14 nhà nghỉ H1, thuộc khu phố D, phường S, thành phố L, Đồng Nai để nghỉ và rủ H đến chơi, đến khoảng 08 giờ sáng ngày 06/3/2024 thì H ra về. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H nhắn tin zalo cho C1 kêu C1 gửi cho H 500.000 đồng để H mua ma túy đá (Methamphetamine) và mua cơm cùng nhau sử dụng, C1 đồng ý và đã chuyển tiền cho H. Sau khi nhận tiền từ C1 thì H đi đến ngã ba B thuộc phường B, TP L gặp một người thanh niên tên Q (hiện chưa rõ lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy đá, sau đó mua 02 hộp cơm rồi đi đến nhà nghỉ gặp C1. Tại đây, C1 và H lấy ra một ít ma túy để sử dụng, phần còn lại H cất giấu vào ốp lưng điện thoại đề sử dụng sau. Khoảng 10 giờ ngày 07/3/2024, C1 và H đang ở trong phòng số 14 thì bị công an phường S, thành phố L tới kiểm tra. Khi thấy công an, H đã cầm nỏ thủy tinh chạy vào nhà vệ sinh vứt vào bồn cầu rồi xả nước tiêu hủy. Công an kiểm tra phát hiện H có cất giấu 01 bịch ma tuý đá dưới ốp lưng điện thoại của H nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Ngọc H và Thái Hữu C1, tạm giữ vật chứng và đưa về trụ sở làm việc.

Tại bản kết luận giám định số 493/KT-KTHS ngày 14/3/2024, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,1591 gam, loại: Methaphetamine.
  • Vật chứng thu giữ và xử lý: Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành thu giữ ma túy H cất giấu sau ốp lưng điện thoại, số ma túy này sau giám định được niêm phong lại trong 01 gói niêm phong số 493/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 có ốp lưng bằng nhựa màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu SamSung Glaxy A25 màu xanh. Tất cả các vật chứng này hiện đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh để phục vụ cho công tác xét xử.

- Tại bản cáo trạng số 167/CT-VKSLK ngày 01/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Thái Hữu Cường và Trương Ngọc Hạnh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1, Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1 Điều 255, Điều 55, Điều 58, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 - Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Thái Hữu C1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 04 năm đến 05 năm tù.

Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; khoản 1 Điều 255, Điều 55, Điều 58, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 - Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trương Ngọc H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • Toàn bộ mẫu vật sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 493/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đề nghị tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 có ốp lưng bằng nhựa màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu SamSung Glaxy A25 màu xanh đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo khẳng định khai báo tự nguyện, không ai ép buộc. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo C1 khai nhận sau khi đưa tiền cho H để mua ma tuý của một thanh niên tên Q (không rõ lai lịch) vào ngày 06/3/2024, cả hai đã sử dụng ma tuý tại nhà nghỉ H1. Số ma tuý còn lại, H đã bỏ vào sau ốp lưng điện thoại của H cất và cả hai đi ngủ. Khoảng 10 giờ ngày 07/3/2024, khi cả hai đang trong phòng số 14 thì bị Công an phường S, thành phố L đến kiểm tra, bắt quả tang.

Qua giám định, Phòng K C2 anh tỉnh Đồng Nai kết luận gói niêm phong là ma túy, có khối lượng là 0,1591 gam, loại: Methaphetamine.

Cáo trạng truy tố bị cáo Thái Hữu C1 và Trương Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1, Điều 255 - Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Các bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng và tàng trữ ma tuý bị nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền về kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở địa phương, từ ma tuý có thể phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, xét vị trí vai trò từng bị cáo nhận thấy:

Đối với bị cáo C1: Bị cáo là người đưa tiền để H đi mua ma tuý, sau đó cả hai cùng sử dụng với nhau. Số lượng ma tuý còn lại hai bên thống nhất sẽ cất để tiếp tục sử dụng sau đó thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo đã từng bị xử phạt tù về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, sau khi chấp hành án xong không biết tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, tiếp tục phạm tội nên cần có mức án nghiêm để bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật.

Đối với bị cáo H: Bị cáo là người đi mua ma tuý, chuẩn bị công cụ, phương tiện để sử dụng ma tuý cùng với bị cáo C1. Khi bị công an kiểm tra đã mang nỏ đi phi tang. Bị cáo là người cất ma tuý vào sau ốp lưng điện thoại nên cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo C1 có cha là ông Thái Hữu T và mẹ là bà Hoàng Thị T4 được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất do đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 – BLHS.

[5] Về vật chứng:

  • Toàn bộ mẫu vật sau giám định được hoàn lại trong gói niêm phong số 493/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đề nghị tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 có ốp lưng bằng nhựa màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu SamSung Glaxy A25 màu xanh dùng để nhắn tin mua ma tuý về sử dụng và giấu ma tuý nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Quan điểm của Viện kiểm sát thành phố L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với người đàn ông tên "Q" bán ma túy cho H, hiện không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1, Điều 255, điểm c, khoản 1, Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 55 - Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên bố: Bị cáo Thái Hữu C1, Trương Ngọc H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý

Xử phạt bị cáo Thái Hữu C1 02 (hai) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.

Xử phạt bị cáo Trương Ngọc H 02 (hai) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2024.

Về vật chứng:

  • Toàn bộ mẫu vật sau giám định được hoàn lại trong gói niêm phong số 493/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đề nghị tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 có ốp lưng bằng nhựa màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu SamSung Glaxy A25 màu xanh dùng để nhắn tin mua ma tuý về sử dụng và giấu ma tuý nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh ngày 04/10/2024).

Về án phí: Bị cáo Thái Hữu C1 và bị cáo Trương Ngọc H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Thi hành án TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ thi hành án;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn ;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HSST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 163/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thái Hữu C và đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger