Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/DS-ST

Ngày: 17-9-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng

đất và tranh chấp lối đi chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU,

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Sỹ Tiến

2. Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 643/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2024/QĐTHPT-DS ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1985 (có mặt)
  2. Địa chỉ: A N, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Người đại diện hợp pháp: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1990; Địa chỉ: 1 B, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 17/4/2023). (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Kha Anh L1 và bà Bùi Thị H - Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh B. (bà H có mặt, bà L1 vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1945 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: B N, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1973; Địa chỉ: B N, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 17/11/2023). (có mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Chị Nguyễn Thị Tuyết V, sinh năm 1970 (có mặt)
    • - Bà Huỳnh Thị H1, sinh năm 1947 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
    • - Chị Nguyễn Thị Tuyết H2, sinh năm 1974 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
    • - Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1967 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
    • Cùng trú tại địa chỉ: A N, Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
    • - Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố Vũng Tàu
    • Địa chỉ: 68 Cô Giang, Phường 4, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
    • Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Bích V1 – Chủ tịch Ủy ban nhân D (vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/10/2023 và các lần làm việc tại Tòa, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 01, diện tích 96,26m² tại Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nguồn gốc do bố mẹ chị Nguyễn Thị Tuyết M là ông Nguyễn N1 và bà Huỳnh Thị H1 nhận chuyển nhượng từ năm 1981 và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 240186 ngày 23/10/1997.

Tại thời điểm sang nhượng tổng diện tích là 126m² (bao gồm căn nhà hiện hữu và hẻm nhỏ bên hông nhà). Năm 2001, Nhà nước thu hồi 29,74m² để mở rộng đường phía trước nên diện tích còn lại là 96,26 m² đất ở.

Ngày 02/3/2021, ông Nguyễn N1 mất. Do vậy, gia đình chị M đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với phần tài sản của ông Nguyễn N1 để lại (là ½ quyền sử dụng đất đối với thửa số 17). Theo đó, toàn bộ những người thừa kế theo pháp luật của ông N1 đã đồng ý để cho chị M được hưởng ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa số 17. Mẹ chị M là bà Huỳnh Thị H1 đã lập hợp đồng tặng cho chị M phần còn lại là ½ giá trị quyền sử dụng đất của thửa số 17.

Sau khi hoàn thành xong thủ tục khai nhận di sản thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất tại Văn phòng C, chị M liên hệ để nộp hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân thành phố V thì được hướng dẫn phải tiến hành thủ tục đo vẽ vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N1, bà H1 được cấp trước đây không có sơ đồ vị trí nên phải đo vẽ để cấp lại sổ mới.

Ngày 16/3/2023, chị M có liên hệ Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V để ký hợp đồng đo vẽ mục đích để ra sơ đồ vị trí phục vụ cho thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất do thừa kế và được tặng cho quyền sử dụng đất.

Ngày 16/3/2023, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai kết hợp với cán bộ địa chính Phường 4 tiến hành công tác đo đạc tại thực địa. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Đ không đồng ý ký giáp ranh và chị bà M không được yêu cầu đo vẽ vào sơ đồ vị trí để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích này nên không thể tiến hành đo vẽ được. Sau đó, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V đã hướng dẫn chị M rút hồ sơ để làm thủ tục khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất.

Nay chị M yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu giải quyết các yêu cầu như sau:

  • Yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ trả lại phần diện tích đất 11,8 m² thuộc lô A2 (theo diện tích đo vẽ thực tế theo sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024) và có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ các công trình vật kiến trúc và các vật cản khác trên đất.
  • Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị Tuyết M đối với diện tích 93m² (theo diện tích đo vẽ thực tế) bao gồm lô A2, A3 theo sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024 tọa lạc tại Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị Nguyễn Thị Tuyết M được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Theo đơn yêu cầu phản tố ngày 28/5/2024 và các lần làm việc tại Tòa, bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:

Gia đình bà Nguyễn Thị Đ hiện nay đang sống tại địa chỉ B N, là nhà giáp ranh với đất của gia đình chị M. Nguồn gốc đất tại địa chỉ B N trước đây là do bà Đ thuê nhà đất từ năm 1987 theo Giấy chứng nhận đã đăng ký đất đai ngày 24/4/1990 với diện tích thuê là 102m²; đến ngày 17/01/1992 thì bà Đ được Nhà nước bán hóa giá theo Giấy chứng nhận QSH nhà đất số 76/CNSH. Cho đến ngày 23/10/1997, thì bà Đ được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 240185 với diện tích là 102m² đất thuộc thửa đất số 16 tờ bản đồ số 01. Quá trình sử dụng đất thì ngày 31/5/2001, Nhà nước đã thu hồi một phần đất phía trước để mở đường, diện tích đất còn lại hiện nay là 85,7m².

Gia đình bà Đ đã ở tại phần đất này từ năm 1977 cho đến nay, hiện trạng nhà đất không hề thay đổi. Khi gia đình về ở đây thì giữa nhà bà Đ và nhà 199 Nguyễn Văn T1 đã có 01 lối đi vào giữa 2 nhà. Phần lối đi này đã tồn tại từ trước đến nay và vẫn được 2 nhà sử dụng không có bất kỳ một tranh chấp nào, cho đến năm 2023 thì gia đình chị M mới tranh chấp cho rằng gia đình bà Đ lấn chiếm phần đất lối đi chung này.

Vì vậy, bà Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị M và yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 11,8 m² nằm giữa nhà 199 N và nhà B N, Phường D, thành phố V là lối đi chung của nhà 199 N và nhà B N, Phường D, thành phố V.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Huỳnh Thị H1 trình bày:

Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 01, diện tích 96,26m² tại Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nguồn gốc do bà Huỳnh Thị H1 cùng chồng là ông Nguyễn N1 nhận chuyển nhượng từ năm 1981 và đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 240186 ngày 23/10/1997.

Tại thời điểm sang nhượng tổng diện tích là 126m² (bao gồm căn nhà hiện hữu và hẻm nhỏ bên hông nhà). Năm 2001, Nhà nước thu hồi 29,74m² để mở rộng đường phía trước nên diện tích còn lại là 96,26 m² đất ở.

Ngày 02/3/2021, ông Nguyễn N1 mất. Do vậy, bà H1 và các con đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với phần tài sản của ông Nguyễn N1 để lại (là ½ quyền sử dụng đất đối với thửa số 17). Theo đó, toàn bộ những người thừa kế theo pháp luật của ông N1 đã đồng ý để cho chị M được hưởng ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa số 17. Bà Huỳnh Thị H1 đã lập hợp đồng tặng cho chị M phần còn lại là ½ giá trị quyền sử dụng đất của thửa số 17.

Sau khi hoàn thành xong thủ tục khai nhận di sản thừa kế và tặng cho quyền sử dụng đất tại Văn phòng C, chị M liên hệ để nộp hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân thành phố V tuy nhiên không thực hiện được thủ tục vì có xảy ra tranh chấp trong việc xác định phần diện tích khe hở giữa nhà 199 và 201 N.

Nay bà H1 xác định phần diện tích đất là khe hở này là thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà H1, từ trước đến nay vẫn để cho gia đình bà Đ đi lại chung là vì tình cảm hàng xóm. Trước đến nay, vợ chồng bà H1 cũng không có ai làm thủ tục hiến đất để làm đường giao thông.

Nay bà H1 đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị M.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Tuyết V, chị Nguyễn Thị Tuyết N và chị Nguyễn Thị Tuyết H2 trình bày:

Về nguồn gốc đất như chị M đã trình bày là đúng.

Sau khi bố mất, gia đình đã thống nhất làm thủ tục phân chia di sản và tặng cho nhà đất cho chị M. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M.

Căn cứ kết quả xác minh, Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố V xác định:

Theo hồ sơ địa chính lưu trữ tại D, thành phố V thì thấy: Tại bản đồ địa chính năm 1993 và năm 2002, không thể hiện khe hở giữa hai thửa đất (thửa 85+87 và thửa 69+70); Hồ sơ địa chính năm 2015, bản đồ địa chính thể hiện khe hở giữa 02 thửa đất này, khe hở này thuộc thửa 85+87, tờ bản đồ số 05 trước đây.

Ngày 14/9/2022, D cũng đã có Công văn 862/UBND/ĐC gửi Chi nhánh Văn phòng đất đai thành phố V, trong nội dung liên quan đến phần khe hở giữa hai thửa đất này, cụ thể: “ĐĐ 881/2022 đã được chi nhánh VPĐKĐĐ thành phố V xác nhận ngày 09/6/2022, có thể hiện phần khe hở giữa 02 nhà. Phần đất này không thuộc danh mục do Nhà nước quản lý”. Và Công văn số 443/UBND-ĐC ngày 19/4/2024 gửi Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, D cũng đã trả lời “Năm 2015: Bản đồ thể hiện khe hở, khe hở này thuộc thửa thể hiện thửa 85+87, tờ bản đồ 05 do bà Huỳnh Thị H1 kê khai sử dụng trước đây”.

Sau khi xem Sơ đồ vị trí thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố lập có lồng ghép với bản đồ địa chính năm 2015 ngày 21/6/2024 và kiểm tra sổ mục kê phường 4 năm 2015 thì phần khe hở này thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 05. Trên các bản đồ lưu trữ tại phường cho thấy thửa đất số 33 trên tờ bản đồ số 05 là đất giao thông do Nhà nước quản lý.

Nay D, thành phố V xác định: khe hở có ký liệu lô A2 theo Sơ đồ vị trí thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố lập ngày 21/6/2024 lồng ghép với bản đồ địa chính năm 2015 thuộc thửa số 33, tờ bản đồ 05 phần đất này là đất giao thông.

Hiện nay, D không có hồ sơ lưu trữ đối với việc hiến đất đối với thửa đất 85+87, tờ bản đồ số 05 để làm đường giao thông. D cũng không xác định được thời gian điều chỉnh diện tích này thành đất giao thông.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của bị đơn – bà Nguyễn Thị Đ rút yêu cầu phản tố về việc công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 11,8 m² nằm giữa nhà 199 N và nhà B N, Phường D, thành phố V là lối đi chung của nhà 199 N và nhà B N, Phường D, thành phố V. Đồng ý di dời, tháo dỡ các các công trình vật kiến trúc và các vật cản khác trên đất để trả lại phần đất này cho gia đình chị M. Tuy nhiên, đề nghị cho 6 tháng để thực hiện việc di dời và mở lối đi mới.

Nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Tuyết M đồng ý để cho gia đình bà Đ thực hiện việc di dời và mở lối đi mới trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày xét xử. Đồng thời, chị M hỗ trợ gia đình bà Đ số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để thực hiện việc mở lối đi mới.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn có quan điểm như sau: Căn cứ quan trọng để xác định việc giải quyết tranh chấp vụ án là Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H 240186 ngày 23/10/1997 của bà Huỳnh Thị H1 và ông Nguyễn Nhàn . Diện tích trên Giấy chứng nhận là 126m2, sau khi nhà nước thu hồi 29,74m2 để mở rộng đường (năm 2001), diện tích còn lại là 96,26m2. Tuy nhiên tại Sơ đồ vị trí thửa đất do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V cấp ngày 21/6/2024 thể hiện căn nhà đang sử dụng có diện tích 81,2m2, phần diện tích khe hở đang tranh chấp là 11,8m2. Tổng diện tích căn nhà + khe hở tranh chấp là 93m2 là tương đương với diện tích được cấp trong Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H 240186. Theo các văn bản lưu trữ và văn bản trả lời của UBND phường D quản lý đều cho thấy nguồn gốc khe hở giữa hai nhà 199 và 201 Nguyễn Văn T1 là do gia đình bà M quản lý và sử dụng tuy nhiên trên sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V lại thể hiện phần khe hở này là đất giao thông. Tuy nhiên, trong suốt quá trình từ năm 2022 đến tháng 4/2024, D đều xác định phần khe hở này không thuộc danh mục Nhà nước quản lý và thuộc thửa 85 +87, tờ bản đồ số 05 do bà Huỳnh Thị H1 kê khai sử dụng (được thể hiện tại các văn bản số 862/UBND-ĐC ngày 14/9/2022; Công văn số 443/UBND-ĐC ngày 19/4/2024). Tại Công văn số 443/UBND-ĐC ngày 19/4/ 2024, công văn số 1170/UBND-ĐC ngày 6/9/2024 của D cũng nêu rõ đề nghị xác minh rõ có hay không việc gia đình bà M thực hiện thủ tục hiến đất làm đường để xác định rõ khe hở này có nằm trong thửa 33 hay không và ai là người quản lý sử dụng. Bà Nguyễn Thị Tuyết M khẳng định từ trước đến nay gia đình không thực hiện thủ tục hiến đất làm đường nên không thể có việc phần đất trên là đất đường giao thông. Mặc khác theo Khoản 3 Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CPđịnh về Trình tự, thủ tục trong trường hợp người sử dụng đất tặng cho quyền sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng thì phải lập văn bản tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định. Sau khi hoàn thành xây dựng công trình công cộng trên đất được tặng cho, Văn phòng đăng ký đất đai căn cứ vào văn bản tặng cho quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận và hiện trạng sử dụng đất để đo đạc, chỉnh lý biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và thông báo cho người sử dụng đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp để xác nhận thay đổi. Gia đình bà M không thực hiện thủ tục hiến đất làm đường, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không có sự chỉnh lý biến động, xác nhận sự thay đổi do đó không có cơ sở để cho rằng phần đất này là đường giao thông. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định phần diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông N1, bà H1. Nên yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị đơn cũng đã thống nhất việc tháo dỡ và trả lại phần đất này cho nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu cho rằng:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong vụ án có cơ sở để xác định quyền sử dụng đất có diện tích 11,8 m² nằm giữa nhà 199 N và nhà B N, Phường D, thành phố V có nguồn gốc thuộc thửa đất số 85+87, tờ bản đồ số 05 của ông Nguyễn N1 và bà Huỳnh Thị H1. Theo bản đồ địa chính năm 2015, phần diện tích đất này được thể hiện là đất giao thông do Nhà nước quản lý, tuy nhiên các cơ quan quản lý đất đai của Nhà nước tại địa phương lại không xác định được nguyên nhân và thời điểm phần đất này được điều chỉnh thành đất giao thông, cũng không có hồ sơ lưu trữ việc điều chỉnh này nên cần xác định đây là phần đất quyền sử dụng hợp pháp của ông N1, bà H1. Năm 2021, gia đình bà H1 đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và tặng cho tài sản cho chị Nguyễn Thị Tuyết M toàn bộ diện tích được cấp giấy chứng nhận nên yêu cầu cả chị M về việc công nhận công nhận quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị Tuyết M đối với thửa đất 87, tờ bản đồ số 05, diện tích 93m² (theo diện tích đo vẽ thực tế gồm lô A2, A3 theo sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024) tại Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là có cơ sở. Tại phiên tòa, bị đơn tự nguyện rút yêu cầu phản tố và đồng ý di dời trả lại phần diện tích khe hở giữa hai nhà cho gia đình chị M nên cần ghi nhận. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị M, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bị đơn và ghi nhận việc tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M và đơn yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Đ thì Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi chung”. Bị đơn – bà Nguyễn Thị Đ có địa chỉ cư trú tại thành phố V; đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại thành phố V nên xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – bà Huỳnh Thị H1, chị Nguyễn Thị Tuyết H2, chị Nguyễn Thị Tuyết N và đại diện Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố V vắng mặt và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không hoãn phiên tòa mà tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Xét việc rút đơn yêu cầu phản tố của đương sự tại phiên tòa thì thấy: Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố. Xét việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử phản tố của bà Nguyễn Thị Đ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét diện tích nhà đất tọa lạc tại địa chỉ A N, Phường D, thành phố V thì thấy:

Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Tòa án sao lục tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V thì quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 85+87 (cũ 17), tờ bản đồ 05 (cũ 01) tọa lạc tại địa chỉ A N, Phường D, thành phố V trước đây là của ông Trịnh Đức H3. Năm 1971, ông H3 chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Thanh L2. Năm 1976, bà L2 chuyển nhượng lại cho bà Phan Thị T2. Đến năm 1988, bà T2 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn N1 và bà Huỳnh Thị H1. Ngày 27/4/1989, vợ chồng ông N1 được Sở X – C cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất. Đến ngày 23/10/1997, UBND tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H240186 cho bà Huỳnh Thị H1 với diện tích 126m² đất ở thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 01. Ngày 22/3/2001, Nhà nước đã thu hồi 29,74m² đất ở, diện tích còn lại là 96,26m² đất ở. Theo diện tích đo đạc thực tế tại Sơ đồ vị trí thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V lập ngày 21/6/2024 (gọi tắt là Sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024) thì chị M xác định diện tích đất của gia đình gồm lô đất ký hiệu A2 có diện tích 11,8m² và lô đất ký hiệu A3 có diện tích 81,2m².

[2.2] Xét diện tích nhà đất tọa lạc tại địa chỉ B N, Phường D, thành phố V thì thấy:

Theo Giấy chứng nhận đã đăng ký đất đai số 1557.P4/Đ.K.Đ.Đ do D cấp ngày 24/4/1990 thì nguồn gốc nhà đất tọa lạc tại địa chỉ B N, Phường D, thành phố V trước đây là do bà Nguyễn Thị Đ thuê của Nhà nước từ năm 1987. Ngày 17/01/1992, bà Đ được Sở X – C cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà đất. Đến ngày 23/10/1997, UBND tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H240185 cho bà Nguyễn Thị Đ với diện tích 102m² đất ở thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 01. Ngày 31/5/2001, Nhà nước đã thu hồi 16,3m² đất ở, diện tích còn lại là 85,7m² đất ở. Theo diện tích đo đạc thực tế tại Sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024 thì bà Đ xác định diện tích đất của gia đình gồm lô đất ký hiệu A1 có diện tích 80,6m², còn lô đất ký hiệu A2 có diện tích 11,8m² là lối đi chung giữa nhà bà với nhà sô A N.

[2.3] Xác định đối tượng tranh chấp:

Theo Sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024 thì giữa nhà 199 và 201 Nguyễn Văn T1 có 01 khe hở ký hiệu là lô A2 có diện tích 11,8 m² thuộc thửa đất số 33 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Phường D, thành phố V (gọi tắt là lô A2); giá trị đất theo giá thị trường là 130.000.000đ (một trăm ba triệu đồng)/m². Tổng giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp là 1.534.000.000đ (một tỷ năm trăm ba mươi tư triệu đồng).

Nay chị Nguyễn Thị Tuyết M cho rằng phần diện tích đất thuộc lô đất có ký hiệu A2 là nằm trong phần diện tích đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Huỳnh Thị H1 nên yêu cầu gia đình bà Nguyễn Thị Đ phải trả lại. Còn bà Đ cho rằng phần diện tích đất thuộc lô đất có ký hiệu A2 là lối đi chung giữa nhà 199 và nhà B N nên yêu cầu Tòa án công nhận đây là lối đi chung. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bà Đ rút yêu cầu công nhận lối đi chung.

[2.4] Xét nguồn gốc diện tích đất có ký hiệu lô A2 thì thấy:

Theo ghi chú tại sơ đồ vị trí thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V lập ngày 21/6/2024 thì diện tích đất có ký hiệu lô A2 thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 5. Theo kết quả xác minh tại D, thành phố V ngày 18/7/2024 thì thửa đất số 33, tờ bản đồ số 5 là đất giao thông do Nhà nước quản lý. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.4.1] Về nguồn gốc:

Theo Sổ mục kê năm 1990, năm 2002 và năm 2015 thì phần diện tích ông Nguyễn N1, bà Huỳnh Thị H1 kê khai thuộc thửa đất số 85+87 (cũ 17), tờ bản đồ số 05 (cũ 01), trong đó diện tích kê khai thuộc thửa 85 có diện tích 20,5m² và thửa 87 có diện tích 93m².

Tại Văn bản số 5656/CNVPĐK-KTĐC ngày 05/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V xác định theo bản đồ địa chính năm 2002 thì phần khe hở có ký hiệu lô A2 thuộc thửa đất số 85+87 tờ bản đồ số 05.

Tại Văn bản số 443/UBND-ĐC ngày 19/4/2024 của D về việc trả lời nội dung xác minh nguồn gốc đất của Tòa án thể hiện: “Nhà số A N, Phường D, thành phố V thuộc thửa đất số 17 (mới 85 +87), tờ bản đồ số 01 (mới 05); ....có một phần khe hở giữa hai nhà nói trên thuộc thửa 17, tờ bản đồ số 01. Và hồ sơ địa chính qua các thời kỳ tại thời điểm năm 2015: Bản đồ thể hiện khe hở, khe hở này thuộc thửa 85+87, tờ bản đồ số 05 do bà Huỳnh Thị H1 kê khai sử dụng”.

Tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 25/12/1999 có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân phường D, được chỉ ranh bởi bà Huỳnh Thị H1 và người sử dụng đất giáp ranh là bà Nguyễn Thị Đ ký xác nhận cũng thể hiện chiều ngang thửa đất có kích thước là 5,5m. Theo Sơ đồ vị trí thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V lập ngày 21/6/2024 thể hiện chiều ngang của lô A3 là 4.86m, chiều ngang của khe hở tranh chấp ký hiệu lô A2 là 0.62m. Như vậy, tổng chiều ngang của 02 lô A2 và A3 tương đương với chiều ngang thửa đất của vợ chồng bà H1 tại Biên bản xác định ranh giới năm 1999 và tổng diện tích lô A2, A3 không lớn hơn diện tích còn lại của vợ chồng bà H1 đã được công nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 240186.

Như vậy, Hội đồng xét xử xác định phần diện tích thuộc khe hở có ký hiệu lô A2 có nguồn gốc thuộc thửa đất số 85+87 (cũ 17) tờ bản đồ số 05 (cũ 01) do ông Nguyễn N1 và bà Huỳnh Thị H1 quản lý và sử dụng. Điều này cũng phù hợp với nội dung trả lời của Ủy ban nhân dân Phường D tại Văn bản số 1170/UBND-ĐC ngày 06/9/2024: “...UBND Phường lồng ghép bản đồ năm 1993 và bản đồ năm 2002 vào bản đồ năm 2015 cho thấy phần khe hở này nằm trọn trong thửa 17 (mới 85+87), tờ bản đồ 01 (mới 05).”

[2.4.2] Về việc điều chỉnh phần diện tích khe hở ký hiệu A2 là đất giao thông do Nhà nước quản lý:

Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân Phường D và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V thể hiện theo Bản đồ địa chính năm 2015 thì phần khe hở giữa 02 nhà 199 và 201 N có ký hiệu lô A2 là thuộc thửa số 33, tờ bản đồ số 05, phần đất này là đường giao thông do Nhà nước quản lý. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân Phường D và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V không xác định được thời điểm nào phần diện tích đất này được điều chỉnh thành đất giao thông và cũng không có hồ sơ lưu trữ liên quan đến việc thu hồi đất hoặc hiến đất để làm đường giao thông. Hội đồng xét xử xét thấy:

Như đã nhận định tại mục [2.4.1] thì phần diện tích thuộc khe hở có ký hiệu lô A2 có nguồn gốc thuộc thửa đất số 85+87 tờ bản đồ số 05 do ông Nguyễn N1 và bà Huỳnh Thị H1 quản lý và sử dụng. Theo Khoản 3 Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CPcủa Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì “trong trường hợp người sử dụng đất tặng cho quyền sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng thì phải lập văn bản tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định. Sau khi hoàn thành xây dựng công trình công cộng trên đất được tặng cho, Văn phòng đăng ký đất đai căn cứ vào văn bản tặng cho quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận và hiện trạng sử dụng đất để đo đạc, chỉnh lý biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và thông báo cho người sử dụng đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp để xác nhận thay đổi...”. Nay bà H1 xác định gia đình bà chưa bao giờ thực hiện thủ tục hiến đất làm đường, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 240186 cũng không có sự chỉnh lý biến động, xác nhận sự thay đổi, điều này cũng phù hợp với xác nhận của các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương là không có hồ sơ lưu trữ liên quan đến việc thu hồi đất để làm đường giao thông. Do đó, không có cơ sở để cho rằng phần đất này là đường giao thông. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy việc điều chỉnh phần diện tích đất ký hiệu lô A2 trên Bản đồ địa chính năm 2015 thành đất giao thông là có sự sai sót trong quá trình cập nhật thông tin của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai dẫn tới việc không nhất quán trong quá trình xác minh thông tin nguồn gốc đất của các cơ quan chức năng, cụ thể: tại các văn bản số 862/UBND-ĐC ngày 14/9/2022; Công văn số 443/UBND-ĐC ngày 19/4/2024 của Ủy ban nhân dân Phường D xác định theo bản đồ địa chính năm 2015 thì khe hở giữa 2 nhà thuộc thửa đất số 85+87, tờ bản đồ số 05 do bà Huỳnh Thị H1 đăng ký kê khai, không thuộc danh mục do Nhà nước quản lý; tại văn bản xác minh ngày 18/7/2024 thì theo bản đồ địa chính năm 2015 thì khe hở giữa 2 nhà thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 05 là đất giao thông do Nhà nước quản lý.

Theo hiện trạng tài sản tranh chấp thì phần khe hở này nằm giữa nhà 199 và B N, hiện nay cả hai nhà đang sử dụng để làm lối đi, ngoài hai nhà này thì không có ai khác đi chung và cũng không phải lối đi dẫn tới thửa đất khác. Tại phiên tòa, đại diện bị đơn cũng xác định phần đất này thuộc phần đất của gia đình bà H1 nên đã rút yêu cầu phản tố về việc công nhận đây là lối đi chung của hai nhà.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định khe hở ký hiệu là lô A2 có diện tích 11,8 m² thuộc thửa đất số 33 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Phường D, thành phố V là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Huỳnh Thị H1 và ông Nguyễn N1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H240186.

[2.5] Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết M về việc công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho chị Nguyễn Thị Tuyết M đối với diện tích 93m² (theo diện tích đo vẽ thực tế) bao gồm lô A2, A3 theo sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024 thì thấy:

Như đã nhận định tại mục [2.4] thì lô đất có ký hiệu A2 có diện tích 11,8m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn N1 và bà Huỳnh Thị H1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 240186. Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 240186 thì quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông N1 bà H1 là 96,26m² thuộc thửa đất số 17 tờ bản đồ số 01. Tuy nhiên, theo kết quả đo vẽ hiện trạng thực tế hiện nay thì quyền sử dụng hợp pháp của ông N1 bà H1 là 93m² bao gồm lô đất có ký hiệu A2 có diện tích 11,8m² và lô đất ký hiệu A3 có diện tích 81,2m².

Ngày 02/3/2021, ông Nguyễn N1 mất. Do vậy, gia đình chị M đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế đối với phần tài sản của ông Nguyễn N1 để lại (là ½ quyền sử dụng đất đối với thửa số 17) theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 19/4/2022 tại Văn phòng C. Theo đó, toàn bộ những người thừa kế theo pháp luật của ông N1 đã đồng ý để cho chị M được hưởng ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 17 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 240186. Ngày 19/4/2022, bà Huỳnh Thị H1 đã lập hợp đồng tặng cho chị M phần còn lại là ½ giá trị quyền sử dụng đất của thửa đất số 17. Nay không có ai tranh chấp đối với việc phân chia di sản thừa kế và tặng cho tài sản này.

Vì vậy, nay chị Nguyễn Thị Tuyết M yêu cầu công nhận quyền sử dụng hợp pháp của chị M đối với diện tích 93m² bao gồm lô A2, A3 theo sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024 là phù hợp nên có căn cứ để chấp nhận. Chị Nguyễn Thị Tuyết M được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

[2.6] Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết M về việc buộc bà Nguyễn Thị Đ trả lại phần diện tích đất 11,8 m² (theo diện tích đo vẽ thực tế theo sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024) và có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ các công trình vật kiến trúc và các vật cản khác trên đất thì thấy:

Vì lô đất có ký hiệu A2 có diện tích 11,8m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chị Nguyễn Thị Tuyết M. Tại phiên tòa, đại diện bị đơn đồng ý tháo dỡ các công trình có trên phần diện tích đất này để trả lại cho chị M, phần diện tích đất của gia đình bà Đ vẫn đảm bảo theo đúng hiện trạng như sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024. Chị M đồng ý hỗ trợ gia đình bà Đ số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để gia đình bà Đ tháo dỡ tài sản và mở lại lối đi ra đường N và thời gian để bà Đ thực hiện việc tháo dỡ, bàn giao lại diện tích đất thuộc lô A2 là 6 tháng tính từ ngày 17/9/2024. Đại diện bị đơn đồng ý với ý kiến của chị M. Xét đây là sự tự nguyện của các đương sự, không vi phạm pháp luật nên cần ghi nhận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M và ghi nhận sự tự nguyện hòa giải của các bên như sau: Bà Nguyễn Thị Đ tự nguyện trả lại phần khe hở có ký hiệu lô A2 có diện tích 11,8 m² cho chị Nguyễn Thị Tuyết M và có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ các công trình vật kiến trúc và các vật cản khác trên đất. Thời gian thực hiện là 6 tháng kể từ ngày 17/9/2024. Chị Nguyễn Thị Tuyết M tự nguyện hỗ trợ bà Nguyễn Thị Đ số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).

[3] Chi phí tố tụng:

Về chi phí sao lục, đo vẽ, định giá: Chị Nguyễn Thị Tuyết M tự nguyện nộp, chị M đã nộp xong.

[4] Về án phí:

Bị đơn – bà Đ phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.

Chị Nguyễn Thị Tuyết M chịu án phí đối với số tiền thanh toán cho bà Nguyễn Thị Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 99 Luật Đất đai 2013; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

  • [1] Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Đ về việc “Tranh chấp lối đi chung”.
  • [2] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 93m² bao gồm lô đất có ký hiệu A2 có diện tích 11,8m² thuộc thửa đất số 33 tờ bản đồ số 05 và lô đất ký hiệu A3 có diện tích 81,2m² thuộc thửa đất số 87 tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại Phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (theo Sơ đồ vị trí ngày 21/6/2024) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của chị Nguyễn Thị Tuyết M.

Bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ các công trình vật kiến trúc và các vật cản khác trên phần đất thuộc lô A2 để trả lại phần diện tích đất này cho chị Nguyễn Thị Tuyết M. Thời gian thực hiện là 6 tháng kể từ ngày 17/9/2024.

Chị Nguyễn Thị Tuyết M tự nguyện hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Chị Nguyễn Thị Tuyết M được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  • [3] Về chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Thị Tuyết M đã nộp xong.
  • [4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Đ được miễn nộp tiền án phí.

Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải nộp 500.000đ (năm trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001522 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Chị M còn phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

  • [5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người vắng mặt cũng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - VKSND TP Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS TP Vũng Tàu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hồng Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi chung

  • Số bản án: 163/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger