Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10 tháng 9 năm 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt – Ông Phạm Ngọc Nguyên

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Yến Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 400/2024/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 563/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 7 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số: 560/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Số A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ cư trú hiện nay: Số B ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Trịnh Bảo L, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn cùng các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn bà Huỳnh Thị H bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trịnh Bảo L qua mai mối tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày 16/6/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh bất hòa nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trong hôn nhân ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn. Bà nhiều lần khuyên nhủ tạo cơ hội cho ông L vẫn không có kết quả, nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Do mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn ông L.

Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung tên Trịnh Bảo K ngày 09/02/2011 và Trịnh Đức D ngày 21/9/2017 do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, bà có công việc và thu nhập đủ khả năng nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết ông Trịnh Bảo L dù được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H Phiên tòa được mở lần thứ hai, ông L vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của đương sự và đề xuất việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các văn bản tố tụng được tống đạt, niêm yết đúng quy định tại các Điều 171, 173, 175, 177 và 179 BLTTDS 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTDS về xét xử vụ án. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H ly hôn ông Trịnh Bảo L.
  • Về con chung: Giao 02 (hai) con chung Trịnh Bảo K, sinh ngày 09/02/2011 và Trịnh Đức D ngày 21/9/2017 cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng, nên không xem xét.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà H cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông L. Ông L cư ngụ tại phường M, thành phố L nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Phiên tòa hôm nay mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông L vắng mặt không có lý do, bà H yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Trịnh Bảo L.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Ông L bà H nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân yêu cầu ly hôn theo bà H bày vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra bất hòa nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, dẫn đến mâu thuẫn trong hôn nhân ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn. Bà nhiều lần khuyên nhủ, tạo cơ hội nhưng ông L không sửa đổi. Do mâu thuẫn trong hôn nhân đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà H không muốn tiếp tục tạo cơ hội hàn gắn, yêu cầu được ly hôn ông L.

Quá trình giải quyết vụ án ông L vắng mặt. Theo Phiếu yêu cầu xác minh của Tòa án tại Công an phường M, thành phố L thể hiện: Trịnh Bảo L, sinh năm 1985 có đăng ký thường trú tại số A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang Do ông L vắng mặt, Tòa án thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông L biết nhưng ông L không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do bà H cấp, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc có yêu cầu nhằm phản đối yêu cầu khởi kiện của bà H là ông L từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, trong gia đình vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, tôn trọng và cùng nhau chia sẻ vui buồn trong cuộc sống, đây là cơ sở vững chắc để bồi đắp, duy trì tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên bà H bày thời gian sống ly thân cả hai không có biện pháp hòa giải để níu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Phiên tòa được mở lần thứ hai ông L tục vắng mặt là không có thiện chí đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc thật sự cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị H ly hôn ông Trịnh Bảo L.

[2.2]. Về con chung: Ông bà có 02 (hai) con chung Trịnh Bảo K ngày 09/02/2011 và Trịnh Đức D ngày 21/9/2017 hiện do bà H sóc, nuôi dưỡng. Bà H cầu được nuôi dưỡng 02 con chung sau ly hôn, bà có thu nhập từ việc mua bán quần áo đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông L dưỡng.

Ông L không tranh chấp quyền nuôi con với bà H Xét điều kiện của bà H việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho 02 con chung sau ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung sau ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con, cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là quyền lợi của con chưa thành niên. Tuy nhiên, bà H thu nhập từ việc mua bán đủ khả năng lo cho con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà H tạo điều kiện cho ông L được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà H con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, vì lợi ích của con ông L, bà H quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H yêu cầu giải quyết. Ông L có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử chưa giải quyết.

[3]. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị H ly hôn ông Trịnh Bảo L.
  2. Về con chung: Ông L bà H 02 (hai) con chung Trịnh Bảo K, sinh ngày 09/02/2011 và Trịnh Đức D ngày 21/9/2017. Bà Huỳnh Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung sau khi ly hôn.

    Ông L phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H yêu cầu.

    Bà H tạo điều kiện cho ông L thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà H tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Trong quá trình nuôi dưỡng con chung vì lợi ích của con, ông L, bà H quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chưa xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị H chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002269, ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà H nộp đủ tiền án phí.
  5. Quyền kháng cáo:

    Bà H có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Ông L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi gởi:

  • - Tòa án ND tỉnh An Giang;
  • - VKS ND TPLX;
  • - Thi hành án DS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 163/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị H được ly hôn ông Trịnh Bảo L. Bà H được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Trịnh Bảo K, sinh ngày 09/02/2011 và Trịnh Đức D, sinh ngày 21/09/2017. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà H không yêu cầu.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger