|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 163/2024/HS-ST Ngày 20-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 669/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Quàng Văn T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1994 tại Điện Biên. Nơi cư trú: Bản Na Luông, Xã Ả, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn X và bà Lương Thị Ú; có vợ là Lò Thị V và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 11/3/2024; tạm giam ngày 20/3/2024; có mặt;
- Lò Văn M, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1991 tại Điện Biên. Nơi cư trú: Bản T, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T1 và bà Lò Thị G; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 11/3/2024; tạm giam ngày 20/3/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 05 phút ngày 11/3/2024, Công an phường A làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đầu ngõ A T, phường A, quận L, Hải Phòng, phát hiện Quàng Văn T2 đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34L1-2731 phía sau chở Lò Văn M có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Khi tổ công tác dừng xe kiểm tra, T thả từ tay phải xuống đất, sát vị trí chân phải 01 túi nilon màu trắng, kích thước 04 x 06 cm, bên trong có 01 gói giấy màu trắng kích thước 01 x 02 cm, chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy Heroine. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng, đưa T và M về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của Quàng Văn T 01 xe môtô biển kiểm soát 34L1-2731 và số tiền 400.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 280 ngày 13/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,14 gam, loại: Heroine.
Quá trình điều tra, Quàng Văn T và Lò Văn M khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/3/2024, T rủ M đi mua ma túy về sử dụng, M đồng ý. Do không có tiền nên T và M thống nhất sẽ vay tiền của những người làm cùng công trường để đi mua ma túy. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T vay được 600.000 đồng của anh H làm cùng công trường (hiện chưa rõ lai lịch), T và M thống nhất sau này mỗi người góp 300.000 đồng trả cho anh H. Sau đó, T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 34L1- 2731 chở M ngồi phía sau đi từ khu công nghiệp V, Hải Phòng đến đường T, quận L, Hải Phòng để tìm mua ma túy. Tới nơi, T và M gặp và thỏa thuận mua Heroine của 01 người nam giới (hiện chưa rõ lai lịch). T điều khiển xe mô tô chở M đi theo người nam giới vào ngõ A T khoảng 20m. Tại đây, T hỏi mua 600.000 đồng ma túy Heroine nhưng người nam giới chỉ còn 01 gói Heroine để bán cho T với giá 200.000 đồng. M ngồi phía sau T nghe, biết toàn bộ quá trình T mua ma túy. Sau khi nhận gói ma túy Heroine vừa mua của nam giới, T cầm ở tay phải rồi điều khiển xe mô tô chở M ra đầu ngõ A T thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Lúc này, T giật mình nên đã đánh rơi gói ma túy xuống đất, gần chân phải của T. Lực lượng Công an đã thu giữ vật chứng, đưa T và M về trụ sở Công an phường lập biên bản quả tang như nội dung nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 155/CT-VKSLC ngày 03/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Quàng Văn T và Lò Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với xe mô tô biển số 34L1-2731 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, Hải Phòng tiếp tục xác minh, xử lý sau;
Đối với người nam giới bán ma tuý cho các bị cáo, do các bị cáo khai không biết nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L chưa có căn cứ để điều tra làm rõ.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quàng Văn T mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn M mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với lượng ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao bì là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ của Quàng Văn T xét là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
- Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 12 giờ 05 phút ngày 11/3/2024, Quàng Văn T và Lò Văn M có hành vi cất giữ trái phép 0,14 gam Heroin, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang tại khu vực đầu ngõ A T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Hành vi của các bị cáo đủ cơ sở kết luận các bị cáo đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
- Hành vi của bị cáo Quàng Văn T và Lò Văn M có tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cùng thống nhất chung tiền đi mua ma tuý sử dụng, cùng chở nhau đi mua ma tuý. Tuy nhiên, bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Lò Văn M, bị cáo T trực tiếp vay tiền đi mua ma tuý, trực tiếp giao dịch mua ma tuý nên vai trò của bị cáo Quàng Văn T cao hơn vai trò của bị cáo Lò Văn M.
- Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần xét xử các bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:
- Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng xét tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, cần có hình phạt nghiêm. Do vai trò của bị cáo T cao hơn vai trò của bị cáo M nên mức án của bị cáo T cao hơn mức án của bị cáo M.
- Về hình phạt bổ sung:
- Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- Hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận L đang quản lý 01 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định có số 280MT/PC09 của Phòng K - Công an thành phố H. Xét thấy vật chứng này liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 400.000 đồng thu giữ của Quàng Văn T xét là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
- Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T và bị cáo Lò Văn M đồng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2024.
Xử phạt bị cáo Lò Văn M1 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/3/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định số 280MT/PC09 (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả lại bị cáo Quàng Văn T số tiền 400.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án, phần còn lại trả cho bị cáo (Theo Ủy nhiệm chi số 44.2024/QĐ-CALC (HTTP) lập ngày 07/5/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận L).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Quàng Văn T và Lò Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 163/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 163/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn T+ Lò Văn M Tàng trữ trái phép chất ma túy
