Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/HS-ST

Ngày: 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

Bà Trần Thị Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Lam - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 162/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn V, sinh năm 1995; tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi thường trú: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính N; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thịnh V1 và bà Tạ Thị X; có vợ Nguyễn Thị L và 01 con; tiền án: Bản án số 60/2019/HSST, ngày 19-11-2019 Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 27-7-2022); tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10-6-2024, chuyển tạm giam ngày 19-6-2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Nguyễn Trung K, sinh năm 1998; tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi thường trú: Xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10-6-2024, chuyển tạm giam ngày 19-6-2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 10-6-2024, tổ công tác Công an xã N, thành phố N làm nhiệm vụ tại đoạn đường ven sông Đào gần đền C, thuộc thôn V, xã N, thành phố N phát hiện Phạm Văn V điều khiển xe máy biển kiểm soát 18Z6-9101 chở Nguyễn Trung K có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra; K thả từ trong tay trái xuống đất 04 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (K và V khai là H mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn VNguyễn Trung K. Ngoài ra còn tạm giữ của V 01 chiếc xe máy biển kiểm sát 18Z61-9101 và 01 điện thoại di động Nokia; tạm giữ của K 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, đều đã cũ.

Bản kết luận giám định số 1092/KL-KTHS ngày 14-6-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 04 gói giấy bạc màu trắng trong phong bì thư được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy Heroine; Tổng khối lượng mẫu: 0,232 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn VNguyễn Trung K khai nhận: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 10-6-2024, V điều khiển xe máy biển kiểm soát 18Z6-9101 ở đường liên xã N, N, huyện N, tỉnh Nam Định thì gặp K đang đi bộ. V rủ K góp tiền mua ma túy về sử dụng chung, K đồng ý, V đưa cho K 300.000 đồng, K góp 100.000 đồng. Sau đó V chở K lên thành phố N, đi vào ngõ nhỏ (không nhớ số ngõ) ở đường V, thôn V, xã N, thành phố N, gặp một một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ), V ngồi trên xe, K xuống xe hỏi mua 400.000 đồng H, người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho K 04 gói Heroine đều bọc bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng. K cầm 04 gói ma túy trên tay trái rồi lên xe V chở đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Cáo trạng số 165/CT-VKS-TPNĐ ngày 26-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định đã truy tố các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù giam.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 1092/KL-KTHS; trả lại cho bị cáo Phạm Văn V 01 (Một) điện thoại di động N2; trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung K 01 (Một) điện thoại di động Iphone màu trắng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố N, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa

các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10-06-2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 10-06-2024; Bản kết luận giám định số 1092/KL-KTHS ngày 14-6-2024 Phòng K1 Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 14 giờ ngày 10-6-2024, tại khu vực đường ven sông Đào gần đền C, thuộc thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định, Phạm Văn VNguyễn Trung K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,232 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Heroine các bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,232 gam nên các bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về vai trò của các bị cáo:

Xét vai trò của các bị cáo thấy: Bị cáo Phạm Văn V là người khởi xướng, chủ động rủ rê bị cáo K góp tiền đi mua ma túy, bị cáo là người dùng xe máy để chở bị cáo K đến khu vực bán ma túy trên thành phố N nên giữ vai trò thứ nhất, bị cáo Nguyễn Trung K là người góp tiền và là người trực tiếp đi mua ma túy nên là đồng phạm thực hành giữ vai trò thứ hai.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Trung K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Phạm Văn V đã có một tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K tàng trữ ma túy nhằm sử dụng cho bản thân, các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy trong phong bì niêm phong số 1092/KL-KTHS đã thu giữ của các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh đã cũ thu giữ của bị cáo Phạm Văn V và 01 (Một) điện thoại di động màu trắng mặt sau có chữ Iphone đã cũ thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung K xét không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng bán ma túy cho Phạm Văn VNguyễn Trung K, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

Chiếc xe máy biển kiểm soát 18Z6-9101 là tài sản của ông Phạm Thịnh V1 (bố đẻ V), ông V1 không biết V mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra công an thành phố N đã trả lại xe cho ông V1 là đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí:

Các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10-6-2024.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10-6-2024.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ có trong phong bì niêm phong số 1092/KL-KTHS.

- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn V 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đã cũ được niêm phong trong 01 túi niêm phong số NS4 196228 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung K 01 (Một) điện thoại di động màu trắng mặt sau có chữ Iphone đã cũ được niêm phong trong 01 túi niêm phong số NS2 2125721 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng số 258/YCN/2024, ngày 31 tháng 7 năm 2024)

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phạm Văn V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Trung K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Phạm Văn VNguyễn Trung K có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 163/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn V và Nguyễn Trung K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger