|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 163/2023/HS-ST Ngày 06 - 11 - 2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Thụ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phương Nghĩa
Ông Đặng Quang Tùng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bế Thị Hoa, Thẩm tra viên
Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà
Mã Thị Mộng, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, tổ chức xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2023/TLST - HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 749/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1- Họ và tên: Đặng Quầy M, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 19/9/1991 tại P, N, Cao Bằng. Nơi cư trú: P, Phan T, N, Cao Bằng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Mù chữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Đặng Chàn P, sinh năm 1961. Con bà: Triệu Mùi M1, sinh năm 1963, có vợ: Triệu Mùi M2, sinh năm 1990 và 03 con.
Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tốt
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C.
2 - Họ và tên: Bàn Quầy P1, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày 28/3/2001 tại P, N, Cao Bằng. Nơi cư trú: Nà Pái, Vi H, B, Bắc Kạn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12 phổ thông. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bàn Dào C, sinh năm 1985; Con bà: Phùng Mùi D, sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tốt.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C.
3 - Họ và tên: Lý Kiềm C1 Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày 10/10/1989 tại M, N, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm K, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12 phổ thông. Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lý Dào V, sinh năm 1968; con bà: Lý Mùi S, sinh năm 1960, có vợ: Đặng Mùi N, sinh năm 1999 (đã ly hôn) và có 01 con;
Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tốt.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C.
4 - Họ và tên: Bàn Dào K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; sinh ngày 11/12/1993 tại P, N, Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện N, Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12 phổ thông. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bàn Vần K1, sinh năm 1969; con bà: Phùng Mùi C2, sinh năm 1967, có vợ: Bàn Mùi P2, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 02 con.
Tiền án: Ngày 20/8/2019, bị Toà án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích (Tái phạm).
Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 14/3/2014, bị Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo về tội Chiếm đoạt vật liệu nổ.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C.
5 - Họ và tên: Phùng Kiềm S1 Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 07/10/1997 tại P, N, Cao Bằng; Nơi cư trú: P, Phan T, N, Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12 phổ thông. Nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông: Phùng Vần P3, sinh năm 1972; con bà: Bàn Mùi N1, sinh năm 1974, có vợ: Hoàng Mùi L, sinh năm 2001 và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tốt.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C.
6 - Họ và tên: Triệu Phụ P4 Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 11/6/1990 tại P, N, Cao Bằng; Nơi cư trú: P, Mỹ P5, B, Bắc Kạn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 3/12 phổ thông. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Triệu Chòi P6, sinh năm 1958; con bà: Sào M, sinh năm 1960; có vợ: Triệu Thị M3, sinh năm 1995; con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không có; Nhân thân: Tốt.
Bị bắt tạm giam từ ngày 12/5/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh C.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Phùng Vần T1, sinh năm: 1996, Trú tại: B, xã P, huyện N, tỉnh Cao Bằng, có mặt.
- Đại diện Công ty T2 – Chi nhánh H1; Địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà V, Số E K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; ông: Đào Văn L, sinh năm 1992 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 45 phút ngày 22/4/2023, tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu T3 phối hợp với Phòng phòng chống ma tuý và tội phạm - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C, công an xã Q, huyện T đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực đường QL 4A thuộc xã Q, T thì phát hiện 03 người đàn ông ngồi trên xe mô tô màu trắng không có biển kiểm soát di chuyển theo hướng từ xóm V, xã Q vào thị trấn T, huyện T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra nhưng đối tượng điều khiển xe không chấp hành mà tăng ga bỏ chạy, tổ công tác tiến hành truy đuổi, khi đến tổ dân phố A, thị trấn T thì dừng được xe của các đối tượng. Qua kiểm tra phát hiện: Người điều khiển xe mô tô là Lý Kiềm C1, sinh năm 1989, trú tại xóm K, xã M, N, Cao Bằng. Còn 02 đối tượng ngồi đằng sau xe mô tô là Phan P7, sinh năm 1989, trú tại số A thôn P, trấn S, thành phố L, tỉnh Giang Tây và Mã S2, sinh năm 1997, trú tại số E, tổ A, thôn K, hương Mao N, huyện K, thành phố H, tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc không có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam. Tổ công tác đã đưa người và phương tiện về trụ sở để làm rõ.
Mở rộng điều tra vụ án đã xác định được như sau:
Đầu tháng 4/2023, Đặng Quầy M, sinh năm 1991, trú tại P, P, N, Cao Bằng đang ngồi trong quán ăn ở thị trấn T thì có một người đàn ông không rõ thông tin lai lịch chủ động đến bắt chuyện, xin số điện thoại và tài khoản Wechat của M. Sau khi M cho số điện thoại và tài khoản W thì hai người không liên lạc với nhau. Khoảng 17 giờ ngày 21/4/2023, có người đàn ông sử dụng số điện thoại 0963.184.xxx gọi điện cho M đặt vấn đề thuê đi đón 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua khu vực mốc 731 thuộc xã Q, huyện T đưa đến khu vực đường rẽ vào núi M ở xã Q, huyện Q giao cho người khác, hứa trả tiền công là 9.000.000₫ (Chín triệu đồng) nên M đồng ý. Người này cũng gửi định vị vị trí đón người qua W cho M. Sau đó, M nói lại việc này cho mọi người trong phòng trọ biết (lúc này trong phòng trọ có Lý Kiềm Chòi; Bàn Quầy P1, sinh năm 2001, trú tại xóm N, xã V, huyện B; Triệu Phụ P4, sinh năm 1990, trú tại xóm P, xã M, huyện B, cùng tỉnh Bắc Kạn; Bàn Dào K, sinh năm 1993, trú tại xóm T và Phùng Kiềm S1, trú tại P, cùng xã P, N, Cao Bằng) và hỏi “có làm không?” Thì P1,C1, P4, K đều nhất trí làm (còn S1 thì đang ngủ) và thống nhất là P1 với P4 lên mốc đón người đưa về đến đồi thông, K với C1 điều khiển xe máy lên đón và chở người nhập cảnh trái phép đi giao cho người khác. Sau đó, P1 nhờ K điều khiển xe máy chở P1 với P4 đến đồi thông khu vực đường lên mốc 731 rồi Khuôn quay về, còn P1 dẫn P4 đi bộ vượt qua mốc khoảng 1km theo hướng dẫn của M thì đón được 04 người đàn ông Trung Quốc và dẫn họ vào Việt Nam qua đường cũ, khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đưa nhóm người Trung Quốc đến đồi thông ở đường L, P1 thông báo lại cho C1 để bảo K cùng đến đón. Sau đó Lý Kiềm C1 và Bàn Dào K đi xe máy lên đến vị trí của P1, P4 cùng nhóm người Trung Quốc để đón người. Tại đây, C1 giao lại xe máy cho P1 để P1 với K điều khiển mỗi xe chở 02 người Trung Quốc đi giao cho người khác rồi C1, P4 đi bộ về phòng trọ tại tổ dân phố A, thị trấn T, T, Cao Bằng. Đến chiều ngày 22/4/2023, người đàn ông lạ gọi Mềnh ra sân bóng đá nhân tạo tại thị trấn T để nhận tiền công. Tại đó, người này đưa cho M số tiền 9.000.000₫ theo thoả thuận trước đó, M cầm tiền về phòng trọ, giữ lại cho bản thân 2.500.000 đồng, còn 7.500.000 đồng thì đưa lại cho P1 để chia cho người khác. Sau đó, P1 đã chia cho P4 số tiền 500.000 đồng, K được 2.000.000 đồng, còn 4.000.000 đồng Phâu đang giữ chưa chia cho C1.
Đến khoảng 17 giờ ngày 22/4/2023, người đàn ông lạ tiếp tục gọi điện cho M bảo đi đón 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép tại vị trí, địa điểm như lần trước, M đồng ý. M bảo Bàn Q Phâu với Phùng Kiềm S1 đi sang Trung Quốc đón người qua khu vực mốc 731, hứa hẹn sẽ trả tiền công thì được P1 với S1 đồng ý. Sau đó, P1 dẫn S1 đi qua mốc 731, vượt qua hàng rào biên giới khoảng 01km thì đón được 04 người đàn ông Trung Quốc, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì dẫn họ về đến đồi thông đường rẽ lên mốc 731 thuộc thôn P, xã Q, huyện T. Tại đó, P1 gọi điện bảo Lý Kiềm C1 và B K đi xe máy đến đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đưa ra thị trấn T. Sau khi K với C1 đến điểm hẹn thì gặp P1, S1 và 04 người Trung Quốc. Tại đó, C1 điều khiển xe hiệu Honda WINNERX màu sơn trắng đen không có Biển kiểm soát; K điều khiển xe máy hiệu Honda Wave a biển kiểm soát 11B1-403.99, mỗi xe chở theo 02 người Trung Quốc, khi di chuyển đến khu vực chợ T4 thì C1 bị tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu T3 bắt quả tang.
Đối với K, khi phát hiện có lực lượng chức năng áp sát yêu cầu dừng xe thì đã tăng ga bỏ chạy chở theo 02 người Trung Quốc gồm: Trần Thành P8, sinh năm 2004, trú tại số A, tổ T, thôn T, trấn B, thành phố B và Phương Thiệu V1, sinh năm 2006, trú tại số A, đồn Lan Đông, thôn G, H, huyện tự trị dân tộc Miêu D, cùng tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc đi về hướng Cửa khẩu T, sau đó K bỏ lại xe máy cùng 02 người đàn ông Trung Quốc, một mình bỏ trốn lên đồi, đến ngày 24/4/2023 thì bị triệu tập lên làm việc. Do chưa thực hiện trót lọt nên chuyến này các bị can đều chưa nhận được tiền công.
Lời khai của các nhân chứng trong vụ án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số: 100/CT-VKSCB-P1 ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Đặng Quầy M, Bàn Quầy P1, Bàn Dào K, Lý Kiềm C1 về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép quy định tại điểm b khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự; Truy tố Triệu Phụ P4, Phùng Kiềm S1 về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội, tích cực hợp tác với CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo đều là dân tộc thiểu số sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo, đại diện Viên kiểm sát đề nghị như sau:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt Đặng Quầy M từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, phạt Bàn Quầy Phâu và Lý Kiềm C1 mỗi bị cáo từ 03 đến 04 năm tù;
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, phạt Bàn Dào Khuôn từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù;
- Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, phạt Triệu Phụ P4 và Phùng Kiềm S1 mỗi bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù;
- - Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu phát mại tài sản đồ vật có liên quan do các bị cáo dùng vào việc phạm tội để nộp ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng của Lý Kiềm C1; 01 (Một) điện thoại di động hiệu TECNOSPARK màu đen của Đặng Quầy M; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh của Bàn Quầy Phâu.
- - Truy thu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có để nộp ngân sách Nhà nước: Mềnh 2.500.000đ; Khuôn 2.000.000đ; Phâu 4.000.000đ; Phin 500.000đ.
- - Trả lại tài sản gồm:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ khẳng định:
Trong 02 ngày 21, 22/4/2023, Đặng Quầy M đã nhận lời với người đàn ông (không rõ tên và địa chỉ) tổ chức đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam 02 lần, tổng cộng 08 (Tám) người qua khu vực mốc 731 thuộc P, Q, T, Cao Bằng. Để dễ dàng thực hiện, M đã rủ Bàn Quầy P1, Lý Kiềm C1, Phùng Kiềm S1, Bàn Dào K, Triệu Phụ P4 cùng tham gia đi đón người nhập cảnh trái phép.
Trong đó, bị cáo M, P1, C1, K được thực hiện 02 lần, mỗi lần 04 người, tổng là 8 người nhập cảnh trái phép;
Bị cáo Siểu với P4 thực hiện 01 lần được 04 người.
Phâu đã được hưởng lợi 4.000.000 đồng, K được hưởng lợi 2.000.000 đồng, M được hưởng lợi 2.500.000 đồng; Phin được 500.000 đồng, C1 chưa nhận được tiền công.
Các bị cáo đều thực hiện hành vi cố ý trực tiếp, động cơ mục đích phạm tội là nhằm thu lợi bất chính, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo Đặng Quầy M, Bàn Quầy P1, Lý Kiềm C1, Bàn Dào K đã phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 348; Hành vi của các bị cáo Phùng Kiềm S1, Triệu Phụ P4 đã phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Điều 348. Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép
- Người nào vì vụ lợi mà tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ từ 05 năm đến 10 năm:
- a)...
- b)Phạm tội 02 lần trở lên;
- c)........".
[3] Vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Trong vụ án này bị cáo Đặng Quầy M giữ vai trò chính, trực tiếp liên lạc để tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép, các bị cáo khác cùng tham gia với vai trò giúp sức cho M. Các bị cáo đều là đồng phạm giản đơn cùng thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: Các bị cáo M, C1, P1, S1, P4 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Nhân thân bị cáo K: Ngày 14/3/2014, bị Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 03 năm tù cho hưởng án treo về tội Chiếm đoạt vật liệu nổ.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
+ Bị cáo Bàn Dào Khuôn có 01 tiền án: Ngày 20/8/2019, bị Toà án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 – BLHS.
+ Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Cả 06 bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
+ Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
[5] Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng của Lý Kiềm C1; 01 (Một) điện thoại di động hiệu TECNOSPARK màu đen của Đặng Quầy M; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh của Bàn Quầy Phâu.
- - Truy thu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có để nộp ngân sách Nhà nước: Mềnh 2.500.000đ; Khuôn 2.000.000đ; Phâu 4.000.000đ; Phin 500.000đ.
- - Trả lại tài sản gồm:
- + 01 (Một) điện thoại hiệu Iphone màu trắng viền đã qua sử dụng cho Phùng Kiềm S1;
- + 01 (Một) điện thoại hiệu OPPO màu trắng đã qua sử dụng cho Đặng Quấy M4;
- + 01 (Một) xe máy hiệu Honda WINNERX màu sơn Trắng đen (xe không gắn BKS) cho Công ty T2 để phát mại thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp giữa Lý Kiềm C1 và Công ty ký kết ngày 15/4/2023 để vay số tiền 25.000.000đồng, (đã trả lãi 3.628.000đ); Hiện còn lại cả gốc và lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là 28.614.242đồng. Công ty yêu cầu được lấy lại xe để thanh lý trả nợ theo Hợp đồng đã ký kết là có căn cứ.
- + 01 (Một) xe máy hiệu Honda Wave màu trắng BKS 11B1- 043.99, chiếc xe do bị cáo K mượn của Phùng Vần T1 nhưng bị cáo không cho T1 biết việc lấy xe đi chở người nhập cảnh nên cần trả lại cho chủ sở hữu là anh T1 quản lý sử dụng là có căn cứ.
[7] Các nhận định khác:
Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0963.184.xxx liên lạc thuê Mềnh đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, ngoài lời khai của M4 thì không có tài liệu nào khác, M4 cũng không biết thông tin về họ tên, địa chỉ của người này nên không đủ căn cứ để xác minh làm rõ. Kết quả tra cứu thông tin thuê bao xác định người đứng tên đăng ký số điện thoại trên là Lương Văn L1, sinh năm 1983, trú tại Đ, L, T nhưng L1 khẳng định chưa từng được đi đăng ký sử dụng số điện thoại này, cũng chưa từng liên lạc với số điện thoại 0377.049.xxx của Đặng Quầy M. Bản thân M cũng khẳng định Lương Văn L1 không phải là người thuê M đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép nên cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh đối với các bị cáo; về hướng xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ nên chấp nhận;
Đối với mức hình phạt của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (tích cực hợp tác với cơ quan An ninh điều tra) đối với các bị cáo là chưa thỏa đáng vì các bị cáo Đặng Quầy M, Bàn Quầy P1, Lý Kiềm C1, Bàn Dào K đều có hành vi tổ chức cho 08 (Tám) người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Bị cáo M, P1, K, S1 bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp; bị cáo C1 bắt phạm tội quả tang; bị cáo P4 bị bắt sau cùng. Trong bản kết luận điều tra vụ án của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C đều xem xét đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho các bị cáo; nhưng không đề nghị áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS là “tích cực hợp tác với CQANĐT”. Các bị cáo chỉ thành khẩn khai nhận tội và là dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên HĐXX chỉ áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo là có căn cứ. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS cho các bị cáo và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử các bị cáo K, C1, P1 dưới khung hình phạt là chưa thỏa đáng nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[9] Về án phí:
Các bị cáo đều là dân tộc thiểu số nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Các bị cáo Đặng Quầy M, Bàn Quầy P1, Lý Kiềm C1, Bàn Dào K, Phùng Kiềm S1, Triệu Phụ P4 phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
2. Về hình phạt và Điều luật áp dụng:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Quầy M 06 (S3) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/4/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bàn Q Phâu 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/4/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý Kiềm C1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bàn D1 Khuôn 06 (S3) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Kiềm S1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/4/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Phụ P4 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 12/5/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu phát mại điện thoại di động sau:
- + 01 (một) điện thoại di động của Lý Kiềm C1, nhãn hiệu OPPO màu hồng trắng, loại màn hình cảm ứng, số imeil: 866190038024271; imei2: 866190038024263, bên trong gắn sim số 0332896720. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình có vết nứt, mặt sai có nhiều vết chầy xước đã cũ.
- + 01 (một) điện thoại di động của Đặng Quầy M, nhãn hiệu TECNOSPARK màu đen đã qua sử dụng, số imeil: 355594500906626, imei2: 355594500906634, bên trong gắn sim số 0812449773.
- + 01 (một) điện thoại di động của Bàn Quầy P1, nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh đã qua sử dụng, số imeil: 350246950155585/01; imei2: 353931240155589/01, bên trong gắn sim số 0705618727 (mặt sau có nhiều vết chầy xước đã cũ).
- Truy thu số tiền do các bị cáo phạm tội mà có, cụ thể:
Bàn Quầy Phâu 4.000.000 đồng, Bàn Dào Khuôn 2.000.000 đồng, Đặng Quầy M 2.500.000đ; Triệu Phụ P4 500.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- Trả lại cho các bị cáo:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu trắng, viền bên cạnh màu đồng đã qua sử dụng, số imeil: 356701083453483; imei2: 35670108345348, bên trong gắn sim số 0366608945, mặt kính trước điện thoại nhiều đường nứt vỡ đã cũ cho Phùng Kiềm S1;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, đã qua sử dụng, số imeil: 865613058923057; imei2: 865613058923040, bên trong gắn sim số 0966485507 (điện thoại mặt sau có nhiều vết chầy xước đã cũ, bật không lên nguồn và không kiểm tra được chi tiết bên trong) cho Đặng Quầy M.
- + 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 11B1-403.99, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE, màu sơn: Trắng Đen B, dung tích xi lanh: 109; số máy: JA39E1259355, số khung: RLHJA3917KY390971, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2019, xe cũ đã qua sử dụng, vỏ xe có nhiều vết chầy xước, gương chiếu hậu bên phải đã vỡ. Kèm theo 01 chìa khóa xe cho anh Phùng Vần T1 quản lý sử dụng.
Qua kiểm tra số khung, số máy thực tế của xe trùng khớp với P9 trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 20/6/2023 của Phòng CSGT Công an tỉnh C.
- + 01 (một) xe mô tô, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu: HONDA, số loại: WINNERX, màu sơn: Trắng Đen, dung tích xi lanh: 149,1; số máy: KC34E5108310, số khung: RLHKC4407PY003510, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2023, xe cũ đã qua sử dụng, xe không gắn biển kiểm soát, không có gương chiếu hậu bên phải. Kèm theo 02 chìa khóa xe cho Công ty T2 – Chi nhánh H1; Địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà V, Số E K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội để xử lý nợ theo Hợp đồng.
Qua kiểm tra số khung, số máy thực tế của xe trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 20/6/2023 của Phòng CSGT Công an tỉnh C.
(Xác nhận các vật chứng trên được Cơ quan ANĐT Công an tỉnh C chuyển giao cho Cục THADS tỉnh C theo biên bản giao nhận vật chứng số 02 ngày 06/10/2023).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phùng Vần T1 có quyền kháng cáo bản án về phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện Công ty T2 – Chi nhánh H1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Thụ |
Bản án số 163/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 163/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong 02 ngày 21, 22/4/2023, Đặng Quầy M đã nhận lời với người đàn ông (không rõ tên và địa chỉ) tổ chức đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam 02 lần, tổng cộng 08 (Tám) người qua khu vực mốc 731 thuộc Pò R, Quang H, T, Cao Bằng. Để dễ dàng thực hiện, Mềnh đã rủ Bàn Quầy P, Lý Kiềm C, Phùng Kiềm S, Bàn Dào K, Triệu Phụ P cùng tham gia đi đón người nhập cảnh trái phép.
