|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 163/2024/HS- ST Ngày: 05/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Kiên.
Bà Lò Thị Thanh Bình.
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 162/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với Bị cáo:
1. Họ và tên: Vũ Văn Đ; sinh năm: 1968, tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn V (đã chết); Con bà: Vũ Thị N; sinh năm 1937; Bị cáo có vợ là: Vũ Thị N1; sinh năm 1971và có 02 con chung, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1994. Nhân thân: Ngày 17/9/2003 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 22/2016/HSST, ngày 17/9/2003. Ngày 31/01/2005 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (Ngày 28/10/2016 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 16/2016/HSST, ngày 28/10/2016. Ngày 16/6/2022 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống nhưng chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 10/4/2024, Vũ Văn Đ đi bộ từ nhà tại Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên và mang theo số tiền 150.000 đồng, mục đích đi tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi đến khu vực bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi (Bị cáo không biết tên, địa chỉ) đang đứng ở ngoài đường, Bị cáo hỏi người đàn ông “Có Heroine bán không? Người đàn ông trả lời: “Có, mua bao nhiêu tiền?”. Bị cáo lấy ra 150.000 đồng đưa cho người đàn ông đó. Sau đó người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho Bị cáo 03 gói Heroine, trong đó: 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu đen miệng gói được hơ lửa hàn kín và 02 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng miệng gói được hơ lửa hàn kín. Bị cáo cầm 03 gói đó rồi nhặt mảnh nilon màu đen tại đường gói 03 gói lại và xoắn miệng gói lại rồi cất vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Đến khoảng 10 giờ Bị cáo cầm số Heroine đó ra khu vực bờ mương thuộc bản C, xã T, huyện Đ và lấy ra 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng và sử dụng hết bằng hình thức hít, 02 gói còn lại Bị cáo lại tiếp tục cho vào mảnh nilon màu đen và xoắn miệng gói lại, cầm bằng tay trái đi bộ về. Bị cáo đi bộ được một đoạn đường thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên kiểm tra, thu giữ tại tay trái của Bị cáo đang cầm 01 gói bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu đen và xoắn miệng gói lại bên trong có 02 gói Heroine có đặc điểm như sau: 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu đen, miệng gói được hơ lửa hàn kín bên trong là H và 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, miệng gói được hơ lửa hàn kín bên trong là H. Tổ công tác mời người chứng kiến đến, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng, sau đó đưa Bị cáo cùng toàn bộ vật chứng về Công an huyện Đ để điều tra làm rõ.
Ngày 10/4/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Vũ Văn Đ như sau: Các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,14 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 682/KL- KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Vũ Văn Đ giám định là chất ma túy: loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,11 gam.
Tại bản cáo trạng số: 106/CT-VKSHĐB ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Bị cáo: Từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu trắng và 02 mảnh nilon màu đen dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 10 giờ 50 ngày 10/4/2024 tại khu vực bản C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép 0,14 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường
hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Heroine.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của Bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Thái Bình, đi học đến lớp 7/10 sau đó nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1989 Bị cáo kết hôn với chị Vũ thị N2 và có 02 người con chung, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1994. Ngày 17/9/2003 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xử phạt 36 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 22/2016/HSST, ngày 17/9/2003. Ngày 31/01/2005 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống, Bị cáo có nhân thân xấu. Tiền sự: Không.
- Về tình tiết tăng nặng: Ngày 28/10/2016 Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 16/2016/HSST, ngày 28/10/2016. Ngày 16/6/2022 Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương sinh sống. Bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, chính vì vậy Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngày 10/4/2024 Bị cáo bị Công an huyện Đ bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của Bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của Bị cáo là làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án gồm:
0,11 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định, vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 mảnh nilon màu trắng; 02 mảnh nilon màu đen dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[6] Các vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi do Bị cáo không biết tên đầy đủ, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan CSĐT không đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra, xác minh. Cơ quan điều tra công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (10/4/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
* Tịch thu tiêu hủy: 0,11 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định, vật Nhà nước cấm tàng trữ và 01 mảnh nilon màu trắng; 02 mảnh nilon màu đen dùng gói ma tuý đã hết giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/7/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 163/2024/HS- ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 163/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (10/4/2024
