Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 163/2024/HSST

Ngày: 05/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch và ông Đinh Xuân Dậu.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thái Hảo

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 09/5/2024 và Thông báo dời lịch xét xử số: 01A/TB-TA ngày 27/5/2024 đối với bị cáo:

TRẦN VĂN TÂY (TÊN GỌI KHÁC: không); sinh năm 1994 tại: Thanh Hóa. Giới tính: Nam. HKTT: Khu phố B, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Trần Văn T (còn sống) và bà Nguyễn Thị T1 (còn sống). Bị cáo có vợ là Vũ Thị Như Q và chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 31/01/2024 (Có mặt)

- Bị hại: Công ty TNHH T4.

Địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thiện Thanh T2. Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Phương N. Địa chỉ thường trú: 9A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt – có đơn xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng: Anh Lê Thư H, sinh năm 1993. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH T4 có địa chỉ trụ sở chính tại K, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai được Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3601946862, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Thiện Thanh T2. Công ty có nhiều địa điểm kinh doanh, trong đó có địa điểm kinh doanh là Trạm xăng dầu Nai Vàng tại địa chỉ tỉnh lộ 767, tổ C, ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đã được Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh số: 00002 ngày 26/05/2021.

Ngày 25/3/2023, Công ty TNHH T4 ban hành Quyết định số 11/23/QĐBN-BH-TV bổ nhiệm Trần Văn T3 giữ chức vụ Đội trưởng Trạm xăng (là một địa điểm kinh doanh khác của Công ty TNHH T4). Đến ngày 12/5/2023, Công ty TNHH T4 tiếp tục ban hành Quyết định số 12/23/QĐBN-BH-TV bổ nhiệm Trần Văn T3 kiêm nhiệm vị trí Đội trưởng Trạm xăng 1. Trước đó ngày 15/4/2023, Công ty TNHH T4 đã ban hành Quyết định số 09/23/QĐBN-BH-TV bổ nhiệm Lê Thư H (sinh năm 1993, trú tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau) giữ chức vụ nhân viên bán hàng kiêm thủ quỹ Trạm xăng 1. Trạm xăng 1 có 03 (ba) trụ bơm xăng, mỗi trụ có 01 (một) vòi bơm và 01 (một) trụ bơm dầu có 02 (hai) vòi bơm hoạt động; có 05 nhân viên trực tiếp làm việc tại trạm xăng dầu gồm: Trần Văn T3 giữ chức vụ đội trưởng, Lê Thư H giữ chức vụ nhân viên bán hàng kiêm thủ quỹ, Nguyễn Bá Thanh P (sinh năm 2002, trú tại H ấp A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) giữ chức vụ nhân viên bán hàng kiêm thủ kho, Tô Cẩm C (sinh năm 1996, trú tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau) và Trần Minh L (sinh năm 1996, trú tại ấp F, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long) là nhân viên bán hàng.

Căn cứ văn bản số 01/2016/TV-CV ngày 01/01/2016 của Công ty TNHH T4 quy định về quy trình làm việc của các trạm xăng dầu thuộc Công ty TNHH T4 (trong đó có Trạm xăng 1) xác định Trần Văn T3 với vai trò là đội trưởng có nhiệm vụ điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh tại trạm xăng dầu, hàng ngày kiểm tra tiền mặt tại trạm và đảm bảo lượng tiền hàng nộp vào ngân hàng phải chính xác và đúng thực tế, quản lý dòng tiền hàng ở trạm và toàn bộ hoạt động kinh doanh tại trạm đảm bảo chính xác không được tự ý chi tiền khi chưa có chỉ thị của Ban Giám đốc; hàng ngày gửi Báo cáo bán hàng ... về Công ty TNHH T4, còn Lê Thư H với vai trò là thủ quỹ có nhiệm vụ căn cứ vào chỉ số trên các trụ bơm tiến hành thu tiền bán hàng của các ca trong ngày, ghi vào sổ quỹ và nộp tiền vào tài khoản ngân hàng của ông Nguyễn Thiện Thanh T2.

Hàng ngày, Trạm xăng 1 hoạt động từ 05 giờ 30 phút đến 21 giờ và được chia làm 02 ca chốt số liệu bán hàng để nộp tiền về cho Công ty TNHH T4, cụ thể:

- Ca 1: Từ 05 giờ 30 phút đến 15 giờ. Sau 15 giờ, thủ quỹ sẽ chốt số tiền bán hàng thu được trong ca 1, ghi vào sổ quỹ và mang tiền đến ngân hàng nộp vào tài khoản ngân hàng của ông Nguyễn Thiện Thanh T2.

- C1: Từ 15 giờ đến hết 21 giờ. Sau 21 giờ, thủ quỹ tiếp tục chốt số tiền bán hàng thu được trong ca 2, ghi vào sổ quỹ, đồng thời đội trưởng lập báo cáo bán hàng tổng hợp toàn bộ số tiền bán hàng trong ngày (tổng số tiền bán hàng, tổng số tiền khách nợ, tổng số tiền khách chuyển khoản ...) để xác định số tiền mặt thực tế thu được trong ngày, đối chiếu với số tiền thực tế mà thủ quỹ thu được để xác định đúng và chính xác. Sau 08 giờ sáng ngày hôm sau, thủ quỹ có trách nhiệm đem số tiền thu được của ca 2 ngày hôm trước đến ngân hàng nộp vào tài khoản ngân hàng của ông Nguyễn Thiện Thanh T2.

Trong khoảng thời gian từ ngày 01/06/2023 đến ngày 11/06/2023, Trần Văn T3 và Lê Thư H đã thực hiện thu tiền (Tây thu tiền từ các nhân viên bán hàng vào ngày 04/6/2023 và ngày 11/6/2023, những ngày còn lại H là người thu tiền), ghi chép sổ quỹ, làm báo cáo bán hàng và nộp tiền vào tài khoản ngân hàng của ông Nguyễn Thiện Thanh T2 không đúng với số tiền bán hàng thu được thực tế của Trạm xăng 1. Kế toán của Công ty TNHH T4 đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu Trần Văn T3 thực hiện đúng quy định, tuy nhiên Trần Văn T3 vẫn không thực hiện và không nộp bổ sung tiền bán hàng còn thiếu về công ty nên ngày 12/6/2023, Công ty TNHH T4 đã tiến hành kiểm tra tình hình thu chi tiền tại Trạm xăng 1. Kết quả kiểm tra xác định trong khoảng thời gian từ ngày 01/06/2023 đến ngày 11/06/2023, Trần Văn T3 và Lê Thư H đã làm thất thoát số tiền 69.079.236 đồng (sáu mươi chín triệu không trăm bảy mươi chín nghìn hai trăm ba mươi sáu đồng) của Trạm xăng dầu Nai Vàng, không nộp về Công ty TNHH T4 nên công ty đã làm đơn tố cáo Trần Văn T3 và Lê Thư H về việc đã chiếm đoạt tiền của công ty.

Kết quả điều tra xác định: Hàng ngày theo nhiệm vụ được phân công, T3 đã chụp ảnh chỉ số trên cả 05 trụ bơm vào lúc 05 giờ 30 phút (trước khi trạm bắt đầu hoạt động bán hàng) và vào lúc 21 giờ (sau khi trạm ngừng hoạt động), đồng thời làm báo cáo bán hàng tổng hợp toàn bộ số lượng xăng dầu đã bán trong ngày, số tiền thu được trong ngày (từ 05 giờ 30 phút đến 21 giờ) gửi lên nhóm Zalo của Trạm xăng 1 để kế toán trạm theo dõi và báo cáo với lãnh đạo Công ty TNHH T4. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/6/2023 đến ngày 11/6/2023, tổng số tiền bán hàng trực tiếp thu được tại Trạm xăng dầu Nai Vàng là 1.309.973.170 đồng (bằng chữ: một tỷ, ba trăm lẻ chín triệu, chín trăm bảy mươi ba nghìn, một trăm bảy mươi đồng), trong đó Trần Văn T3 và Lê Thư H đã nộp về Công ty TNHH T4 là 1.240.293.730 đồng (bằng chữ: một tỷ, hai trăm bốn mươi triệu, hai trăm chín mươi ba nghìn, bảy trăm ba mươi đồng); ngoài ra Trần Văn T3 và Lê Thư H đã chi mua nước uống cho Trạm xăng dầu Nai V là 600.000 đồng (bằng chữ: sáu trăm nghìn đồng) (là tiền Tây và H được phép chi theo quy định của công ty) và đã làm thất thoát số tiền 69.079.440 đồng (bằng chữ: sáu mươi chín triệu, không trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm bốn mươi đồng) (lệch 204 đồng so với kết quả kiểm tra của Công ty TNHH T4 ngày 12/6/2023 do công ty T5 sai số liệu) của Trạm xăng 1. Do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên T3 đã 03 (ba) lần yêu cầu H đưa tiền, cụ thể: lần 01 vào ngày 02/6/2023, T3 yêu cầu H đưa số tiền 15.000.000 đồng (bằng chữ: mười lăm triệu đồng); lần 02 vào ngày 04/6/2023, T3 yêu cầu H đưa số tiền 35.000.000 đồng (bằng chữ: ba mươi lăm triệu đồng) và lần 03 vào ngày 10/6/2023, T3 yêu cầu H đưa số tiền 2.600.000 đồng (bằng chữ: hai triệu sáu trăm nghìn đồng), tổng cộng là 52.600.000 đồng (bằng chữ: năm mươi hai triệu, sáu trăm nghìn đồng). Khi yêu cầu H đưa tiền như trên, T3 chỉ nói với H là lấy tiền theo chỉ đạo của ông T2 Giám đốc Công ty TNHH T4 nên H đã tin tưởng đưa tiền cho T3. Sau khi lấy được tiền, T3 đã sử dụng khoảng 42.200.000 đồng (bằng chữ: bốn mươi hai triệu, hai trăm nghìn đồng) để trả tiền vay nợ lãi (không nhớ cụ thể trả cho ai), còn lại khoảng 10.400.000 đồng (bằng chữ: mười triệu, bốn trăm nghìn đồng) T3 đã sử dụng để tiêu xài cá nhân.

Đối với số tiền thất thoát còn lại là 16.479.440 đồng (bằng chữ: mười sáu triệu, bốn trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm bốn mươi đồng) quá trình điều tra không xác định được nguyên nhân vì sao thất thoát do H và T3 thu tiền từ các nhân viên bán hàng không có phiếu thu hoặc biên bản giao nhận nên không biết thiếu do tính sai chỉ số hay thiếu do giao nhận tiền. Tuy nhiên, T3 nhận thấy có trách nhiệm trong việc thất thoát số tiền trên nên đồng ý dùng lương tháng 5/2023 của T3 là 12.597.000 đồng (đang bị Công ty TNHH T4 giữ) và 2.000.000 đồng tiền mặt (đã nộp cho Công ty TNHH T4 vào ngày 13/6/2023) để đền bù thiệt hại cho Công ty TNHH T4.

Ngày 29/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Văn T3 về tội “Tham ô tài sản” để điều tra. Quá trình điều tra bị can T3 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. (Bút lục số: 26-235).

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại hiệu OPPO F9, màu xanh da trời, số IMEI 1 là 866376047182610, tình trạng đã qua sử dụng, sim số 0896133605 và 0902771906 của Trần Văn T3. Kết quả điều tra xác định điện thoại trên mới được T3 mua vào đầu tháng 01/2024 để sử dụng, không có dữ liệu nào liên quan đến vụ án và không liên quan gì đến hành vi phạm tội. Do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện T trả lại 01 (một) chiếc điện thoại trên cho Trần Văn T3 theo quy định.

- Đối với số tiền 52.600.000 đồng (bằng chữ: Năm mươi hai triệu, sáu trăm nghìn đồng) mà gia đình Trần Văn T3 nộp để khắc phục hậu quả cho Trần Văn T3. Cơ quan CSĐT Công an huyện T ban hành Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại số tiền trên cho Công ty TNHH T4 bằng hình thức chuyển khoản vào số tài khoản 144549659 đứng tên Công ty TNHH T4 mở tại Ngân hàng TMCP Á theo đề nghị của ông Nguyễn Thiện Thanh T2 - Giám đốc công ty. Đại diện Công ty TNHH T4 đã nhận tiền và không có yêu cầu gì thêm.

+ Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKS-HS ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Trần Văn T3 về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015;

+ Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn T3. Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cở sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Văn T3 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Về dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T3 đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: Trần Văn T3 được Công ty TNHH T4 bổ nhiệm giữ chức vụ đội trưởng trạm xăng dầu Nai Vàng trong thời gian từ ngày 12/5/2023 đến ngày 12/6/2023. Theo quy định của công ty, T3 có nhiệm vụ điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh tại trạm xăng dầu, kiểm tra hàng ngày tiền mặt tại trạm và đảm bảo lượng tiền hàng nộp vào ngân hàng phải chính xác và phải đúng, quản lý dòng tiền hàng ở trạm và toàn bộ hoạt động kinh doanh tại trạm đảm bảo chính xác không được tự ý chi tiền khi chưa có chỉ thị của Ban Giám đốc. Do đó T3 là người có chức vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ ngày 01/6/2023 đến ngày 11/6/2023, T3 đã lợi dụng chức vụ quyền hạn thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền bán hàng của Trạm xăng 1 03 lần. Cụ thể:

  • Lần thứ 01: Vào ngày 02/6/2023, T3 chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm triệu đồng).
  • Lần thứ 02: Vào ngày 04/6/2023, T3 chiếm đoạt số tiền 35.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba mươi lăm triệu đồng).
  • Lần thứ 03: Vào ngày 10/6/2023, T3 chiếm đoạt số tiền 2.600.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu sáu trăm ngàn đồng).

Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi nêu trên của Trần Văn T3 đã phạm vào tội “Tham ô Tài sản”, với tình tiết định khung “Phạm tội nhiều lần” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức là khách thể quan trọng được pháp luật và nhà nước bảo vệ nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt sống tôn trọng pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả, đồng thời bị cáo có bà nội là người có công cách mạng nên cần áp dụng các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về dân sự: Đã được giải quyết, tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 353; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
    • + Tuyên bố bị cáo Trần Văn T3 phạm tội “Tham ô tài sản”.
    • + Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T3 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024
  2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn T3 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - CQ điều tra CA huyện Trảng Bom;
  • - Bộ phận T.H.A hình sự;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 163/2024/HSST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 163/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger