|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 162/2024/HNGĐ- ST
Ngày 03/5/2024
“V/v Tranh chấp HN&GĐ"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Đình Khoát, ông Trần Văn Khánh.
Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn thị Bích Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 63/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Trần Vân A - sinh năm 1993, (có mặt).
- Trú tại: CH309, nhà C9, phường Nn, quận C, TP. H.
- * Bị đơn: Anh Phùng Tuấn A1 – sinh năm 1989;
- Trú tại: Thôn 1, xã T, huyện M, thành phố H.
- Hiện đang chấp hành án tại trại giam T, xã M, huyện H, tỉnh B, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Chị kết hôn với anh Phùng Tuấn A1 năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới xong chị có về làm dâu ngay sống chung cùng gia đình. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tháng 01/2017 anh Tuấn A1 vi phạm pháp luật, phải đi chấp hành án phạt 14 năm tù tại trại giam T, xã M, huyện H, tỉnh B. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị tòa án án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống.
*Bị đơn có lời trình bày: Anh chị đăng ký kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc không có mâu thuẫn gì. Tuy nhiên ngày 17/01/2017 anh bị bắt do hành vi buôn lậu và làm giải tài liệu con dấu của cơ quan tổ chức và phải chấp hành án 14 năm tù, do thời gian chấp hành án dài nên vợ anh yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn. Hiện anh đang chấp hành án phạt tù, anh không thể tham gia giải quyết vụ án được, anh A1 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Về con chung:
Nguyên đơn trình bày: Vợ chồng có 01 con tên Phùng Mai L, sinh ngày 05/7/2017. Khi ly hôn chị xin nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.
Bị đơn trình bày: Vợ chồng có 01 con tên tên Phùng Mai L, sinh ngày 05/7/2017. Khi ly hôn, do anh đang chấp hành án nên giao cho chị Vân A nuôi, anh không cấp dưỡng.
Tài sản chung, công sức, công nợ: Hai bên đều không đề nghị giải quyết.
* Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.
- Về con chung xin nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, công sức, công nợ: không đề nghị giải quyết.
- Bị đơn vắng mặt có lý do, xin xét xử vắng mặt.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử đã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Mâu thuẫn giữa chị Vân A và anh Tuấn A1 đã đến mức trầm trọng, đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Vân Anh.
- Về con chung giao cho chị Vân A trực tiếp nuôi con, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Tuấn A1. Anh Tuấn A1 có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản, công sức, công nợ không xem xét; chị Vân A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 01 tháng 3 năm 2024 chị Trần Vân A - sinh năm 1993; Trú tại: CH309, nhà C9, phường N, quận C, thành phố H, có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Phùng Tuấn A1, sinh năm 1989; Nơi đăng ký HKTT tại: Thôn 1, xã T, huyện M, thành phố H, nên Tòa án nhân dân huyện M đã thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn đã nghiêm chỉnh chấp hành theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án, đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo quy định tại điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét đơn xin ly hôn của chị Trần Vân A đối với anh Phùng Tuấn A1, Hội đồng xét xử thấy: Chị Vân A và anh Tuấn A1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn năm 2016 tại UBND xã T, huyện M, thành phố H, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 01 năm 2017 mâu thuẫn, do anh Tuấn A1 vi phạm pháp luật và phải chấp hành án 14 năm tù, xét mâu thuẫn giữa chị Vân A và anh Tuấn A1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Vân A1 xin ly hôn là phù hợp điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phùng Mai L, sinh ngày 05/7/2017. Hiện nay các con vẫn đang ở cùng với chị Vân A. Xét thấy hiện nay anh Tuấn A1 đang phải chấp hành án, do vậy HĐXX giao con cho chị Vân A nuôi con và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Tuấn A1, anh Tuấn A1 có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.Về tài sản, công sức, công nợ: Không xem xét. [5] Về án phí Hôn nhân và gia đình: Chị Vân A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Vân A được ly hôn anh Phùng Tuấn A1.
- Về con chung:
Giao cho chị Trần Vân A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Phùng Mai L, sinh ngày 05/7/2017 cho đến khi con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Tuấn A1, anh Tuấn A1 có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, công sức, công nợ: không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình: Chị Trần Vân A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008521 ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận: |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 162/2024/HNGĐ- ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 162/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vân A xin ly hôn anh Tuấn A1
